Nẽo về Tâm Linh.- Bài 6: 4 Đức Niết Bàn.

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
C. Khổ & Lạc (cặp mâu thuẫn & đối lập thứ 3)(tt)

2/.VÔ LƯỢNG TỨ ĐẾ:

Nếu tư duy quán chiếu sâu trong cuộc sống. Chúng ta có thể chiêm nghiệm được rằng: Cuộc đời có vô lượng nỗi Khổ, có vô lượng nguyên nhân sanh khổ. Nhưng cũng có vô lượng cách tu tập để thoát khổ và cũng có vô lượng sự an lạc (Niết Bàn).- Đó là Vô Lượng Tứ Đế.

a/.VÔ LƯỢNG KHỔ ĐẾ:


Bằng vào Pháp nhãn.-Bậc thức giả quán chiếu và thấy rỏ.-Tất cả chúng sanh đều Khổ. Dù ở địa vị nào, vua chúa hay quan dân đều khổ, Người nghèo thì khổ đã đành, mà người giàu cũng khổ. Các bạn đã từng thấy đấy.

-Có những gia đình giàu có hiển vinh, nhưng khổ nổi không có con để nối dòng, sớm hôm thăm viếng, rồi họ lại sợ "không biết rồi đây của cải này để lại cho ai".-KHỔ.

-Lại có những gia đình, con cháu đông đầy nhưng lại kình chống nhau, sẳn sàng chém giết mưu hại nhau để tranh giành tài sản, trong khi cha mẹ vẫn còn trơ trơ ra đó.-KHỔ.

-Lại có những gia đình tuy con cái không kình chống nhau, nhưng chúng lại hè với nhau mà phá tán. Con trai thì hạch sách tiền bạc của cha mẹ để đi hút hít xì ke ma túy, đua xe, bài bạc. Con gái và vợ thì bón rút của cải để đi nuôi bồ nay anh này mai anh khác.-KHỔ.
Cho nên người xưa đã nói "Tài thuộc ngủ gia". Nghĩa là Tiền của thuộc 5 nhà:
1 nước trôi. 2 lửa đốt. 3 giặc cướp. 4 nhà nước tịch thu. 5 vợ con phá sản.
Thế đấy.Tất cả chúng sanh đều khổ.

Chẳng những thứ dân là khổ.-Mà từ Tam công, tể tướng , đại thần, vua chúa đều khổ.
Các bạn thử ôn lại những trang sử sách thì rỏ.
*Ngày xưa Hàn Tín là bậc đại công thần của nhà Hán, cuối cùng chết trong tay nhà Hán.-KHỔ.
*Ở nước Việt Nam ta Nguyễn Trải là bậc khai quốc công thần của Nhà Lê, cuối cùng chết trong tay nhà Lê.-Khổ.

Còn đối với thời hiện tại. Một người làm quan, lấy xe công đi chơi, bị báo chí tố thì khổ. có xe sang để đi "lấy le".- Coi chừng bị kiểm điểm. cũng khổ.

Người xưa nói "Hưu hưu hưu, cái thế công danh bất tự do".

Cho nên thấy rỏ từ quan chí dân chỉ là một trường đời đau khổ.!!!

*Cho nên Bậc Thức giả nhìn thấu ra mầm móng nguyên nhân của Khổ chứa sẵn trong cái nhân vui.

- Thế sự đua nhau nói khổ vui
Có chi là khổ có chi vui
Vui trong tham dục vui rồi khổ
Khổ để tu hành khổ hóa vui
Nếu biết có vui rồi có khổ
Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui
Mong sao giữ mãi đừng vui khổ
Mới thoát ra ngoài cái khổ vui
(???)

Quán như vậy là để thấy Khổ là vô lượng chớ không phải chỉ có tam khổ hay bát khổ mà thôi.

Đó là: VÔ LƯỢNG KHỔ ĐẾ.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
* 3/. Tứ Thánh Đế,

Giáo lý TỨ ĐẾ trong đạo Phật có nhiều người Phật tử, thậm chí chưa chánh thức là Phật tử, đọc qua một ít trang kinh sách Phật, người ta có thể tự cho rằng mình đã biết đã hiểu giáo lý TỨ ĐẾ rồi. Rằng đó là KHỔ ĐẾ, TẬP ĐẾ, DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ, đâu có gì lạ !

Đúng ! Nhưng giáo lý Tứ Đế không chỉ có vậy. Giáo lý TỨ ĐẾ có thể gọi nhiều tên: TỨ ĐẾ. TỨ DIỆU ĐẾ. TỨ CHƠN ĐẾ. TỨ THÁNH ĐẾ.

Mỗi tên có ý nghĩa khác nhau, vì vậy phải học giáo lý TỨ ĐẾ qua bốn tên và bốn tầng sâu cạn cao thấp do nhãn quan của con người, tùy chứng đắc, tùy trình độ căn cơ.
Phật dạy: Này Ca Diếp ! Khổ Thánh Đế là pháp tu để dạy cho người tu tập pháp Tứ Thánh Đế. Chí như trâu, bò, lừa, ngựa v.v...chở chuyên cày kéo tận cùng khổ cực nhưng chỉ có khổ, không phải khổ Thánh đế.

Này Ca Diếp ! Người không biết cảnh giới mầu nhiệm sâu kín của Như Lai, không biết PHÁP THÂN vi mật thường trụ của Như Lai, không biết phước đức trí tuệ oai lực của Như Lai, cho rằng thân Như Lai cũng chỉ là thân tạp thực như thân của mọi chúng sanh, không có PHÁP THÂN NHƯ LAI nào nữa. Vì không có mắt trí tuệ nên chánh pháp thấy là phi pháp. Phi pháp thấy là chánh pháp. Hiểu biết và tu hành như vậy chỉ có KHỔ, không phải KHỔ THÁNH ĐẾ.
(hết trích. Kinh Đại niết Bàn- Trực chỉ)

Tìm hiểu Tứ Thánh Đế, chúng ta nên tìm về

Vô Sanh Tứ Đế. và Vô Tác Tứ Đế
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
C. Khổ & Lạc (cặp mâu thuẫn & đối lập thứ 3)(tt)
4./ Vô Sanh Tứ Đế.
+ Có Khổ hay không khổ ? Khổ Đế Vô Sanh.


Có thật là có Khổ chăng ?
Kinh Bát Nhã Phật dạy:
"Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo"
Nghĩa là Không có Khổ , Không có Tập là nguyên nhân sanh khổ, Không có Diệt (Niết Bàn), cũng không có Đạo (con đường dẫn đến Niết Bàn)".

Vì sao ? Vì không có NGÃ (cái Ta) thì ai khổ ? Ai Niết Bàn ? Ai tu tập đến được Niết Bàn ?

Hay nói cách khác: Không có Ngã thì không có nguyên nhân sanh khổ.

- KHỔ KHÔNG THẬT CÓ. Là VÔ SANH TỨ ĐẾ VẬY.

Như vậy: Cuối cùng vẫn phải qui về.- Do có "Ngã chấp" mới có Khổ. Nếu không có "Cái tôi- Ngã chấp", thì ai thọ khổ ? Ai tạo tác nhân khổ ?

Cuối cùng chúng ta qui kết "Cái tôi- Ngã chấp" là nguyên nhân gây khổ, và thọ khổ ?

Kinh Bát Nhã nói: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la Mật, thời chiếu kiến ngủ uẩn giai không . Độ nhất thiết khổ ách"

Nghĩa là: Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la Mật, thấy rõ 5 Uẩn đều không, nên qua khỏi tất cả Khổ nạn".
(hết trích)

Cổ nhân có câu: "Chúng ta sợ dĩ sợ vạ lớn là vì ta có cái thân. Nếu ta không có thân quên mình có thân đi thì còn sợ gì tai vạ nữa.".

Luận Phân biệt công đức có chép lại câu chuyện như sau:

“Có một vị Tỳ-kheo tu tập thiền quán trong vùng chôn cất tử thi. Một đêm nọ trong lúc vị Tỳ-kheo đang quán bất tịnh nơi các tử thi thì từ đâu xuất hiện một con quỷ đói. Con quỷ trông thật gớm ghiếc đi đến một tử thi và đánh tử thi với vẻ căm giận, vị Tỳ-kheo trông thấy thế hỏi:

- Tại sao lại đánh tử thi đó?

Con quỷ đáp:

- Tử thi này làm khổ tôi như vầy nên tôi đánh nó.

- Ngươi nói thế nghĩa là sao? Vị Tỳ-kheo ngạc nhiên hỏi.

- Tử thi này là thân xác của tôi lúc còn sống. Vì nó mà tôi tạo tác biết bao ác nghiệp để bây giờ phải chịu khổ thế này.

Nghe con quỷ nói thế, vị Tỳ-kheo bảo:

- Sao không đánh tâm của ngươi, đánh tử thi nào có ích gì?

Một lúc sau có một thiên nhân đến rải hoa trời Mạn-đà-la lên một tử thi khác. Vị Tỳ-kheo ngạc nhiên hỏi:

- Vì cớ gì rải hoa lên tử thi hôi thối ấy?

Vị thiên nhân đáp:

- Tôi nhờ tử thi này mà được sinh lên cõi trời. Tử thi này là bạn lành của tôi, cho nên tôi đến rải hoa báo đáp.

Vị Tỳ-kheo hỏi:

- Sao lại nhờ tử thi này mà được sinh thiên?

Vị thiên nhân đáp:

- Tử thi này là thân xác của tôi lúc còn sống. Nhờ có nó mà tôi tu phước, tạo nhiều thiện nghiệp, nên sau khi chết được sinh lên cõi trời.

Vị Tỳ-kheo lại nói:

- Sao chẳng đem hoa rải trong tâm mình, lại đi rải lên tử thi hôi thối? Tâm mới là cái gốc tạo thiện ác chứ đâu phải cái thân kia. Sao lại bỏ gốc tìm ngọn vậy!”.

Nhờ có thân mà chúng ta có thể tạo nghiệp thiện hoặc ác, từ đó nghiệp dẫn dắt chúng ta vào đường vui hoặc khổ. Tuy nhiên, cái thân chỉ là công cụ, là phương tiện, còn động cơ tạo nghiệp, nguồn gốc bộ máy vận hành tạo nghiệp chính là tâm ý của con người. Tâm ý chỉ đạo cho thân hành động. Tâm ý sinh khởi ý niệm thiện thì dẫn dắt thân hành động thiện; tâm ý sinh khởi ý niệm ác thì dẫn dắt thân hành động ác. Trong câu chuyện trên, vị Tỳ-kheo khai thị cho con quỷ biết rằng chính vì cái tâm tạo ác nghiệp mà nó phải bị đọa làm loài ngạ quỷ. Vị Tỳ-kheo cũng chỉ cho vị thiên nhân kia biết chính nhờ cái tâm biết tạo thiện nghiệp, khéo tu tập mà được sinh lên cõi trời. "
(hết trích)


Như vậy: Khổ là Vô Sanh, Niết Bàn (Lạc) cũng là Vô Sanh.

Nói cách khác Khổ hay Lạc đều Vô tự Tánh. Nên Có Khổ mà Không người thọ Khổ. Có Lạc nhưng không người Thọ Lạc. Vì Niết Bàn là Vô Thọ tất cả Thọ.

Vô Khổ vô Ưu Chơn Cực Lạc.
Bất Sanh bất diệt Tức Niết Bàn.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
5/. Vô Tác tứ Đế.

Dưới nhãn quang của người tu chứng chân lý, có được pháp nhãn, người ta nhìn và nhận thức KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO khác hơn người phàm phu nhận thức KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO theo bài bản của sanh diệt Tứ Đế. Trình độ giác ngộ chân lý của hạng người này, họ nhìn thấy được bản chất của KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO vốn là phi bản chất; nghĩa là nó không có cái thực chất đích thực.

Bởi vì nhận định rằng: Trước sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thấy chúng là nguyên nhân của KHỔ, do người.

Thấy chúng là những thứ trang trí làm đẹp cho cõi đời, làm cho cuộc sống đáng sống, cũng do người.

Thế cho nên KHỔ không thực chất để sanh. TẬP, DIỆT, ĐẠO cũng không thực chất để sanh. Lấy pháp nhãn mà nhìn thì rõ là Tứ Đế "VÔ SANH".

Đó là chỗ MẦU NHIỆM của giáo lý TỨ ĐẾ, cho nên có tên: TỨ DIỆU ĐẾ. Tứ Diệu Đế cũng gọi là VÔ SANH TỨ ĐẾ, từ cơ sở đó.

Bằng cách nhìn khác của con người chứng đạo có được tuệ nhãn, các ngài thấy rằng KHỔ ĐẾ không phải chỉ có người nghèo thiếu, đói rách, cực nhọc, vất vả một nắng hai sương để đổi lấy miếng ăn cái mặc mới là KHỔ. Người chứng đạo còn thấy tất cả: Quốc vương, Tổng thống, Bộ trưởng, Đại thần, cán bộ, tam công, bách quan, vạn dân đều khổ hết. Chẳng qua mỗi địa vị, mỗi đẳng cấp chịu lấy cách khổ khác nhau mà thôi. Nhìn sâu thực trạng cuộc sống, hoàn cảnh, môi trường, hành động, thực hiện...đều có sự vô an bất trắc như luôn luôn rình rập sẵn sàng đoạn mạng con người ! Vì vậy dưới nhãn quang của người đạt đạo: khổ nhiều lắm, nhìn đâu cũng có cái mầm khổ ở trong nội tại: KHỔ ĐẾ VÔ LƯỢNG ! Nhìn qua khu vực TẬP ĐẾ, DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ, người chứng đạo cũng thấy rõ tánh chất VÔ LƯỢNG của mỗi đế.

Làm quan, làm vua, làm Tổng Thống ai chẳng nghĩ rằng: mình đạt đến "vinh quang tột đỉnh" ! Uy quyền cái thế chấn bị sơn hà ! Có mấy ai ngờ rằng: Vinh quang đó, uy dũng chấn sơn hà đó có thể làm nên bản án, tù tội cho mình ! Những người làm nông không phải là nghề tội lỗi, vậy mà có người làm nông gây cho mình tội lỗi, thậm chí có trường hợp mất mạng với nhau. Lương y, bác sĩ là nghề nghiẹp dễ làm việc "độ thế cứu nhơn" vậy mà cũng có bác sĩ, lương y không làm ra được chút phước đức nào mà còn tạo ra vô vàn bất thiện nghiệp ! Hàng giáo sĩ, bậc sa môn, đức giáo chủ..ai cũng những tưởng đó là bậc thánh thiện khả kính bậc nhất trên đời. Vậy mà đặt trọn niềm tin, gởi hết lòng tôn kính vào các ngài "thay mặt cõi trên" ấy cũng cần phải vận dụng "văn tư tu", lấy "tứ y pháp" ra làm chuẩn, may ra mới khỏi thất vọng và thiệt thòi !

DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ cũng vô lượng. Bởi lẽ người đạt đạo nhìn đâu cũng thấy Niết bàn. Ở đâu cũng là Niết bàn. Nhìn đâu cũng là pháp thiện. Ở đâu cũng có thiện pháp để thực hành, trang nghiêm thế gian. Do vậy, qua cái thấy biết, nhận thức của người đạt đạo: KHỔ ĐẾ, TẬP ĐẾ, DIỆT ĐẾ, ĐẠO ĐẾ, đế nào cũng "vô lượng". Đó là sự thật. Đó là chân lý. Vì vậy có tên gọi "Tứ chơn đế". TỨ CHƠN ĐẾ tức là VÔ LƯỢNG TỨ ĐẾ vậy.

Dùng Phật nhãn quan sát vũ trụ nhân sanh, PHÁP GIỚI NHẤT CHÂN, BÌNH ĐẲNG BẤT NHỊ ! Giáo lý TỨ ĐẾ Phật dạy hơn bốn mươi lăm năm qua, sử dụng Phật nhãn và Phật trí mà soi rọi thì không có ĐẾ nào !

Phiền não và Bồ đề không có hai tánh. Phiền não tức Bồ đề.

Sanh tử và Niết bàn không có hai cảnh. Sanh tử tức Niết bàn.

Khi mê chỉ thấy phiền não, không thấy giác tánh Bồ đề. Lúc ngộ, Bồ đề giác tánh hiển hiện ra, mê tình tan biến mất. Tùy thuận chân lý, ngay trong cõi đời sanh tử đã tự thọ dụng Niết bàn. Không nhận thức giác ngộ chân lý, tự mình đánh mất Niết bàn mà mình đang thọ dụng. Đó là ý nghĩa: VÔ TÁC TỨ ĐẾ. Nói cách khác. VÔ TÁC TỨ ĐẾ là không làm gì hết, không có ĐẾ nào hết. Đối với Phật nhãn: PHÁP NHĨ NHƯ THỊ. Ai hiểu được chân lý đó mới là người hiểu biết TỨ THÁNH ĐẾ ở kinh Đại Niết Bàn./.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)

1/. Bất Tịnh của thân người:

Hòa Thượng Thích Thiền Tâm có bài văn về sự bất tịnh của thân người:

Vóc bào ảnh lắm người yêu tiếc
Yêu tiếc thân cho thiệt vì thân
Cuộc vui những ước vô ngần
Nào hay vui vẫn là nhân chác sầu!
Kiếp phù thế bóng câu cửa sổ
Chất huyển-hư giọt lộ lồng hoa
Đôi mươi trẻ, chín mươi già
Số phần yểu thọ khó qua vô-thường
Dép dưới giường, lên giường vội biệt
Sống ngày nay, dễ biết ngày mai?
Mạng người hô-hấp kinh thay
Nghĩ cơn vĩnh-biệt tuyền đài mà đau
Xót duyên kiếp vì sao ngắn-ngủi
Chấp thân chi để tủi cho thân
Da bao những thịt xương gân
Xác nầy dường thể đống phân sạch gì?
Tóc, răng, móng khác chi đất bợn
Mũi, dãi, đàm nên tởm xiết bao!
Bên ngoài rệp đốt muổi đeo
Bên trong sán, lải lẫn vào nhớp chưa?
Nỗi nóng bức ngày trưa tiết hạ
Cơn lạnh-lùng, đêm giá trời đông
Xét thân nhơ khổ vô cùng
Dứt lòng tham luyến, khởi lòng thoát-ly
Trách người thế mê chi lắm nhẽ
Sánh phong-lưu phô vẻ y-quan
Kẻ khờ cũng học đài-trang
Để lòng điên-đảo theo đàng sắc thanh
Đầu xương sọ cài trâm thắt lụa
Đảy da hôi ướp xạ xông hương
Khéo đòi nhung gấm phô-trương
Chỉ tuồng che lớp vô-thường hôi tanh
Những mãn tưởng ngày xanh muôn tuổi
Lắm cơ mưu đeo đuổi yên hoa
Ngờ đâu tai điếc, mắt lòa
Diêm-Vương sắp rước đến tòa U-minh
Làn tóc bạc đưa tin quỉ-sứ
Gốc răng long điểm chỉ qui âm
Càng tài, càng sắc, càng dâm
Càng thêm đọa lạc càng lầm mà thôi
Cuộc hành lạc một thời thương tiếc
Nẽo luân-hồi muôn kiếp đắng cay
Đến khi sắp xuống diêm-đài
Thịt xương đau nhức, chân tay rụng rời
Vợ lưu-luyến đầy vơi giọt lệ
Con thảm-thương kể lễ khóc than
Dù cho quyến thuộc trăm ngàn
Có ai thay thế cho chàng được chăng
Kẻ sống ở nặng quằn gánh tủi
Người chết đi dong ruổi phách hồn
Đường âm mờ tựa đêm hôm
Trông ra quạnh quẻ bồn-chồn thảm-thê
Nại-hà đến lạnh tê gió lốc
Quỉ môn sang ghê gốc tiếng thương
Bảy ngày lìa quá cõi dương
Âm-ty đã trải trăm đường hỏi tra
Tào-quan xử thét la chẳng vị
Ngục tốt hờn tay chủy, tay xoa
Đài gương nghiệp cảnh sáng lòa
Soi tường thiện ác chối qua được nào
Người nhân đức cho vào cửa phước
Kẻ hung hoang giải trước hình ty
Đọa-đày khổ-sở xiết chi
Mới hay nhân-quả mấy khi sai lầm
Rừng đao kiếm bao năm hết tội
Kiếp sừng lông nhiều nỗi đa mang
Trả đền cho dứt nghiệp oan
Mới mong thoát khỏi con đàng long-đong
Dù ai có to lòng, lớn mật
Mặc chàng hay báng Phật khinh Tăng
Chẳng qua đối trước Diêm-quân
Cúi đầu co gối chịu phần xử tra
Hồn phách đã xa chơi âm-giới
Thi hài còn ở cõi dương-gian
Có tiền mua lớp áo quan
Không tiền vùi chốn núi hoang lạnh-lùng
Chất da thịt sẽ cùng tan rả
Tấm hình hài lần hóa tanh hôi
Chỉ trong chầy sớm mà thôi
Chầy năm bảy tháng sớm thời ít hôm
Nét kiều-diễm chập chờn xuân mộng
Kiếp tài hoa hình bóng bạch vân
Khi xưa, tài sắc mười phần
Mà nay một nắm cô phần lạnh tanh
Thời oanh-liệt hùng anh đâu tá
Cuộc ái-ân hư-giả còn chi
Phất phơ cành liễu xanh rì
Giấy tiền treo đó dường nghi mối sầu
Bóng chiều rũ xuống màu cỏ biếc
Bia mồ trơ một chiếc vắng không
Nghĩ thôi rơi lệ chạnh lòng
Đời người đến thế là xong một đời
Ví chăng biết tìm nơi giải-thoát
Nương về ngôi chánh-giác qui-y
Luân-hồi hẳn dứt có khi
Bên trời bát-nhã còn chi lo phiền
Lối ma quỉ đừng riêng mưu sống
Đất từ-bi gieo giống hoa-đàm
Giữ lòng thiện dứt lòng tham
Gái, trai, Tăng, tục đều kham tu-hành
Rõ cảnh mộng chớ quanh đường mộng
Biết miền chơn, kíp chóng tu chơn
Dần dà tính thiệt so hơn
Tuổi xuân qua mất để hờn về sau
Sáu chữ Phật cùng nhau gắng niệm
Chín phẩm đài sen chiếm ngôi vinh
Chớ nên mình phụ lấy mình
Trách sao Diêm-lão vô-tình chẳng dung
Bỏ điều ác xin làm theo thiện
Chừa lỗi xưa tu tiến đường sau
Lại vì quyến-thuộc bảo nhau
Cùng khuyên già trẻ sớm mau tu trì
Khiến mỗi kẻ đồng qui bến giác
Cho mọi người đều thoát sông mê
Dù trong lao khổ dám nề
Đài sen đốt mảnh hương thề nguyền xin�
Nguyền xin dốc tưởng tin lời Thánh
Dám để cho rồi rảnh ưu-du
Kiếp nầy chẳng gắng chuyên tu
Còn e kiếp khác công-phu lỡ-làng.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)

2/. Bất Tịnh nơi hoàn cảnh thế giới con người:

Ở Tịnh Độ Tông thường nói về hoàn cảnh và thế giới con người là bất tịnh là trược uế. Qua giáo lý Ngủ trược ác thế:

Qua kiến giải đó, hành giả thấy rằng: Cõi Ta Bà chúng ta có 5 điều trược uế trong hoàn cảnh sống:

Ngũ trược ác thế là 5 thứ nhơ đục ở cõi thế gian Ta Bà khổ lụyhiểm ác:

– Thời đại biến đổi không ngừng (kiếp trược)

– Sự thấy biết sai lầm, tà bậy (kiến trược)

– Những si mê, tham đắm, thù hận (phiền não trược)

– Sự luân hồi sanh tử không ngừng dứt (chúng sanh trược)

– Đời thọ mạng ngắn ngủi, vô thường (mạng trược)

Trong kinh Niệm Phật Bát Nhã Tam Muội nói,

ở vào thời Mạt pháp cuối cùng, thời của ngũ trược ác thế, tâm trí con người mỗi ngày càng thêm sa đọa bởi dục vọng, ganh tỵ, ích kỷ, hiểm ác, hận thù. Từ đó, chiêu cảm đất trời những tật dịch, chiến tranh, gió bão, động đất, mất mùa, lũ lụt, thời tiết viêm nhiệt bức não.

Chúng sanh nơi cõi Ta Bà,

trong thời đại căn cơ yếu kém, tâm tưởng thô trệ, chỉ có thể tự cứu chính mình bằng pháp niệm Phật A Di Đà, vì đó là pháp môn Nhị Lực siêu việt đệ nhất trong tất cả 84.000 pháp môn của đức Thế Tôn.



Ngũ Trược có nghĩa là:

(s: pañca kaṣāyāḥ, p: pañcā kasāyā, 五濁): còn gọi là Ngũ Chỉ (五滓), tức trong thời Giảm Kiếp (減刼, thời kỳ thọ mạng của chúng sanh giảm xuống dần) sẽ sanh khởi 5 loại nhơ bẩn hay điều không tốt lành. Theo Kinh Bi Hoa (悲華經) quyển 5, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 98, Ngũ Trược gồm
(1) Kiếp Trược (s: kalpa-kaṣāya, 刼濁): vào thời Giảm Kiếp, khi thọ mạng của chúng sanh giảm xuống còn 30 tuổi thì sẽ sanh ra nạn đói, giảm đến 20 tuổi thì sẽ có bệnh dịch hoành hành, đến 10 tuổi thì xảy ra nạn đao binh, làm cho tất cả chúng sanh thảy đều bị tai hại.
(2) Kiến Trược (s: dṛṣṭi-kaṣāya, 見濁): khi chánh pháp đã diệt, tượng pháp xuất hiện, tà pháp chuyển sanh, tà kiến tăng trưởng mạnh và khiến cho mọi người không còn tu theo con đường lành nữa.
(3) Phiền Não Trược (s: kleṣa-kaṣāya, 煩惱濁): chúng sanh có nhiều ái dục, bỏn xẻn, keo kiệt, đấu tranh lẫn nhau, ăn chơi trác táng, thọ nhận các tà pháp và làm cho tâm thần bị não loạn.
(4) Chúng Sanh Trược (s: sattva-kaṣāya, 眾生濁): còn gọi là Hữu Tình Trược (有情濁), chúng sanh có nhiều điều xấu ác, tệ hại, không hiếu kính cha mẹ, tôn trưởng, không biết sợ nghiệp quả báo, không làm việc phước thiện công đức, không tu hạnh bố thí trí tuệ cũng như ăn chay, không giữ gìn các giới cấm, v.v.
(5) Mạng Trược (s: āyu-kaṣāya, 命濁): hay còn gọi là Thọ Trược (壽濁), từ ngàn xưa thọ mạng con người là 80.000 tuổi, thời nay do vì ác nghiệp tăng trưởng nhiều, cho nên tuổi thọ giảm dần, vì vậy người thọ 100 tuổi rất hiếm có. Như vậy, trong Ngũ Trược, Kiếp Trược là chung và bốn loại kia là riêng
Như trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật, năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế, kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (釋迦牟尼佛、能爲甚難希有之事、能於娑婆國土五濁惡世、劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中、得阿耨多羅三藐三菩提, Phật thích ca mâu ni có thể làm những việc rất khó khăn hiếm có, có thể nơi quốc độ Ta Bà có năm món trược, gồm kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược, mà chứng quả giải thoát hoàn toàn).” Hay trong bài Lô Sơn Huệ Viễn Pháp Sư Lụy (廬山慧遠法師誄) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống, thời Nam Triều có câu: “Linh thanh tục chấn, Ngũ Trược tạm long (令聲續振、五濁暫隆, khiến cho thanh danh mãi chấn đông, Ngũ Trược tạm thời ngừng phát triển).” Hoặc trong bài Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Tràng Tán (佛頂尊勝陀羅尼幢贊) của Độc Cô Cập (獨孤及, 725-777) nhà Đường cũng có câu: “Mang mang Ngũ Trược, khách trần phú chi (茫茫五濁、客塵覆之, mịt mờ Năm Trược, khách trần lấp che).” Hơn nữa, trong bài tựa của Kinh Lăng Nghiêm (楞嚴經) cũng có đoạn: “Phục thỉnh thế tôn vị chứng minh, Ngũ Trược ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn (伏請世尊爲證明、五濁惡世誓先入、如一眾生未成佛、終不於此取泥洹, cúi xin Thế Tôn chứng minh cho, đời ác Năm Trược thề vào trước, nếu một chúng sanh chưa thành Phật, trọn không nơi đây nhập Niết Bàn).”

Trên đây là ý nghĩa của từ Ngũ Trược trong hệ thống Tự điển Phật học online do Cổng Thông tin Phật giáo Việt Nam cung cấp. Các từ khóa khác về Phật học trên hệ thống sẽ được tiếp tục cập nhật.
(hết trích)

Nói chung Con người và hoàn cảnh sống của con người là Bất Tinh.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)

* 3. Do Tâm Ý hay do hoàn cảnh mà Uế trược ?.

Có một số người, họ nhận thấy thân này uế trược nên họ tự tử để mong tìm một cái thân khác đẹp hơn ? Điều này là sai lầm, mà sợ là thọ thân sau lại xấu hơn.- Vì Tướng tự Tâm sanh.

Cũng có một số người. họ thấy cõi đời nầy uế trược, họ chạy trốn cõi đời này mong tìm một cảnh giới văn minh giàu để sống cho tốt hơn. Nhưng "Cái cực mà vực lên non, cong lưng mà chạy, cực còn theo sau". hay người xưa thường nói "Cây khô tưới nước cũng khô, người nghèo đi đến xứ mô cũng nghèo". Ví dụ: Một ít người do thói trộm cắp bị chính quyền bắt phạt, họ bỏ trốn qua nước khác. Nhưng thói quen trộm cắp không từ bỏ, cuối cùng chính quyền sở tại cũng bắt họ, lại còn treo bảng cảnh báo "Coi chừng trộm cắp".

Kinh Pháp Bảo Đàn Lục Tổ nhắc về ý này: "Người Đông Phương tạo tội, cầu sanh về Tây Phương ! Người Tây Phương tạo tội thì cầu sanh về đâu ? ".

Kinh Duy Ma Cật dạy: "Tùy kỳ Tâm Tịnh tắc Phật độ Tịnh, Dục tịnh Phật Độ tiên tịnh kỳ Tâm".
Nghĩa là:" Tâm Tịnh thì Cõi nước được Thanh tịnh. Muốn có Nước Phật Thanh Tịnh để ở. Trước phải Thanh Tịnh Tâm mình" (không tham, sân, si).

Kinh Pháp Cú Phật dạy:

KINH PHÁP CÚ
Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu


1. Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.


2. Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.


Tóm lại:

165. Tự ta gây ác nghiệp.
Tự ta nhiễm cấu trần,
Tự ta tránh ác nghiệp,
Tự ta tịnh thân tâm.
Nhiễm tịnh do ta cả.
Không ai thanh tịnh ai.


(KINH PHÁP CÚ (DHAMMAPADA)
Phẩm XII ATTA VAGGA - THE SELF - PHẨM TỰ NGÃ)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)

4. Đối với hoàn cảnh uế trược phải tu thế nào ?

Luận Niệm Phật Bảo Vương Tam Muội dạy;

MƯỜI ÐIỀU TÂM NIỆM
1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sanh. Tham dục sanh thì dễ phá giới thối Đạo.
2. Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Kiêu sa nổi dậy thì khinh dễ đè lấn mọi người.
3. Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. sở học không thấu đáo thì chưa được cho là được.
4. Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. chí nguyện không kiên cường thì thị thường kiêu ngạo.
5. Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường, kiêu mạn. Lòng kêu ngạo thì khinh khi người khác.
6. Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
7. Với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.
8. Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp thì thi ân có ý mưu đồ.
9. Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.
10. Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch thì nhân ngã chưa xả. tự mình hèn nhác mà oán thù chỉ tăng thêm.

Bởi vậy, ÐỨC PHẬT ta:

• Lấy bịnh khổ làm thuốc thần
• Lấy hoạn nạn làm giải thoát
• lấy khúc mắc làm thú vị
• Lấy ma quân làm bạn đạo
• Lấy khó khăn làm thích thú
• Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ
• Lấy người chống đối làm nơi giao du
• Coi thi ân như đôi dép bỏ
• Lấy sự xả lợi làm vinh hoa
• Lấy oan ức làm cửa ngỏ đạo hạnh
Nên chấp thuận trở ngại thì thông suốt, mà mong cầu thì thông suốt sẽ bị trở ngại. Ðức Thế Tôn thực hiện huệ giác bồ đề ngay trong sự trở ngại, như Ương Quật hành hung, Ðề Bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi và sự phá hoại làm sự tác thành cho ta.

Ngày nay, những người học đạo trước hết không dấn mình vào trong mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại ập đến thì không thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào!
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)

4. Đối với hoàn cảnh uế trược phải tu thế nào ? (tt)

* Kiếp Trược vẫn có Trường thọ Thanh Tịnh.
* Thân Uế Trược vẫn chứa Kim Cang Bất hoại thân.


Bấy giờ có vị Bồ tát họ Đại Ca Diếp, giòng Bà la môn, từ chỗ ngồi đứng dậy trịch vai áo bên hữu, cung kính nhiễu Phật, rồi quỳ gối chấp tay hỏi Phật qua bài kệ:

Làm sao được trường thọ ?
Thân Kim Cang không hoại ?
Nên tạo nhân duyên gì
Để được sức kiên cố ?
Làm gì ở kinh nầy
Để được đến bờ kia ?
Xin Phật mở kho tàng
Vì chúng sinh dạy rõ !
Làm sao được rộng lớn
Làm y chỉ chúng sinh
Làm sao biết thiên ma
Để làm chúng khiếp sợ ?
Lời Phật, lời Ma Ba tuần
Làm sao phân biệt biết ?
Thế nào các Bồ tát
Thấy được tánh khó thấy ?

Nghĩa mãn tự bán tự
Phải hiểu như thế nào ?
Làm sao ở đời trược ác
Chẳng ô nhiễm như hoa sen
Thế nào ở trong phiền não
Mà phiền não chẳng nhiễm ?
Như y sư trị bệnh
Không bị bệnh truyền lây ?
Con nay thỉnh Như Lai
Vì các hàng Bồ tát
Diễn nói pháp thậm thâm
Thế nào tất cả pháp
Đều có tánh an lạc
Cúi xin đấng Thế Tôn

Phân biệt dạy chúng con.

Phật khen Ca Diếp Bồ tát. Lời hỏi của ông có giá trị như người được Nhất thiết trí. Lúc Như Lai mới thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội bồ đề cũng có vô số Bồ tát đến hỏi ta như vậy.

Này Ca Diếp Bồ tát ! Hãy lóng nghe ! Như Lai sẽ vì ông mà nói về nghiệp nhân trường thọ của một Bồ tát.

(Kinh Đại Niết Bàn- còn tiếp)

Kính các Bạn: Cõi kiếp trược mạng trược 5 trược này tu hành có thể biến thành Cõi Chân tịnh. Thân Uế trược xấu ác này có thể thành Kim cang bất hoại thân. Chỉ do biết tu hay không mà thôi.

Mởi các Bạn đón xem.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)
5. Các Pháp Có Chân Tịnh.

+ Đức Phật dạy rằng: "muốn được Trường thọ, kim cang thân bất hoại thì phải như đoạn kinh sau: Như Lai sẽ vì ông mà nói về nghiệp nhân trường thọ của một Bồ tát.

Phàm có hạnh nghiệp, có thể làm nhân cho quả Vô Thượng Bồ đề thì thành tâm nghe kỹ và lãnh thọ giáo nghĩa đó. Tự mình lãnh thọ rồi truyền dạy cho người khác để nhiều người được lợi lạc. Do tu tập hạnh nghiệp ấy mà Như Lai được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nay lại vì mọi người nói rộng ý nghĩa ấy.

Muốn thực hiện sâu rộng nghiệp nhân trường thọ, Bồ tát phải:

Phát tâm đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả, hộ niệm tất cả chúng sinh, như thương con ruột của mình.

Dạy cho tu tập pháp ngũ giới, thập thiện.

Những chúng sinh bị khổ ba đường ác, cứu độ cho được ra.

Giải thoát cho người chưa giải thoát.

Người chưa giác ngộ dạy cho pháp tu tỉnh thức.

Do tu các nghiệp nhân như vậy mà Bồ tát được "thọ mạng lâu dài", trí tuệ tự tại."

(hết trích- Kinh Đại Niết Bàn)

Tại sao làm các việc lành như thế mà lại được Trường thọ, kim cang thân bất hoại ? Đó là vì các thiện pháp nó khế hợp với Pháp Tánh, vì pháp tánh là Chân, Thiện, Mỹ, khế hợp với NHƯ, vì Như là rốt ráo thanh tịnh. Tu như vậy là XỨNG TÁNH KHỞI TU, TÙY THUẬN PHÁP TÁNH. Nên được Niết Bàn.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)

6. Trường Thọ Phi thời gian.

Khi nói đến trường thọ, người ta sẽ gắng liền thọ mạng với một khoảng thời gian.- Người sống được 70 tuổi trường thọ hơn người 69 tuổi; người sống được 80 tuổi trường thọ hơn người 79 tuổi v.v... Ông Bàn Cổ theo truyền thuyết là người sống lâu nhất (trong loài người) được 800 năm tuổi thọ. Vậy trường thọ đã được gắn liền với một khoảng thời gian, mà người thế gian qui ước là năm, tháng, ngày, giờ....

Nhưng

THỜI GIAN CHỈ LÀ ÃO MỘNG, KHÔNG THẬT CÓ.

Sao gọi là không thật có ?

Trong chúng ta, ai cũng biết một năm có 12 tháng, một tháng có 30 hoặc 31 ngày, một ngày có 24 giờ vị chi một năm có 365 ngày v.v... Tất cả sự chia chẻ thời gian đó đều dựa trên sự quay của trái đất chung quanh mặt trời và chính nó quay quanh trục của nó... Nếu đến một ngày nào đó mặt trời tắc đi, thì thời gian lại là cái gì ? Là không còn nền tảng để "khái niệm".- Thời gian chỉ là sự ức tưởng.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có bài thơ Nguyện Cầu, nói đến sự ức tưởng của thời gian:

Ta còn để lại gì không?
Kìa non đã lở, này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc, bờ mê
Nghìn thu nửa chớp
,
bốn bề một phương....

Vâng. Nghìn thu hay nữa cái chớp mắt, có ý nghĩa bằng nhau.

Quán Vô Thỉ Không Trí Độ Luận dạy:

"Chúng sanh từ vô thỉ đến nay, chuyển thân này sang thân khác. Thân này do nghiệp lực đời trước dẫn sanh, rồi nghiệp duyên tạo ở đời này lại trở thành nghiệp lực dẫn sanh ở đời sau. Cứ như vậy lần lượt kế truyền mãi mãi. Thế nhưng, chẳng có pháp ban đầu cũng chẳng có pháp rốt sau. Vì sao ? Vì trước sanh sau chết, rồi trước chết sau sanh, chẳng có nhân, chẳng có duyên, chẳng có gì sanh, chẳng có gì diệt cả. Như vậy là Vô Thỉ Không."
(hết trích)

Nói tóm lại:

Thoát mọi chấp mắc của ý thức về Thời gian. Đó là thoát khỏi sanh tử về chấp biên tế Thời gian. Khi ấy chính thân thất đại ô uế này lại là thân thất bảo Diệu Sắc Thân Như Lai. Nghĩa là Thân Chân Tịnh. Đức Phật là người đã ra khỏi mọi lầm chấp của Ý thức, đã không còn vô minh, bởi vậy sự vô minh về thời gian không tác động lên pháp thân Phật. Hay nói cách khác, Sự trường thọ của đức Phật là:

Trường thọ phi "Thời gian".
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)
7/. Thật tế các Pháp đều Thanh tịnh không ô uế.

kinh văn: "Nầy các thầy Tỳ kheo ! Đối với Như Lai, "Tất cả các pháp bổn tánh không tịch". Đó là kết quả của sự tu hành trải qua vô lượng kiếp mà nên. "

(trích Kinh Đại Niết Bàn)

1/. Thế nào là tất cả các pháp ?

2/. Thế nào là Không ?

3/. Thế nào là Tịch ?

(1/.) Tất cả các pháp là chỉ cho các sự vật hiện tượng có ở trên cõi đời này.

Tất cả là nói bao quát, cũng có thể diễn bày ra tất cả các pháp biểu hiện bằng 6 món: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, 6 món này còn gọi là "Lục trần". Người ta cho chúng là "lục trần" vị ví nó như bụi có thể làm nhơ bẩn tâm chúng ta.

(2/.) Thế nào là Không ? Với con mắt quan sát của người đệ tử Phật. Tất cả 6 trần kể trên, chúng là pháp hữu vi, nghĩa là chúng là pháp duyên hợp, vì chúng duyên hợp nên chúng vô ngã, không có tự tánh, không có tự tánh nên nói chúng là KHÔNG.

(3/.) Thế nào là Tịch ? Như trên đã nói tất cả các pháp (6 trần) là không, nên thật tế chúng là không có, nên nói chúng tịch diệt, vắng lặng nghĩa là chúng không có công năng làm nhiễm ô cho ai hết.

Làm dữ bởi ta, mà nhiễm ô cũng bởi ta,
Làm lành bởi ta, mà thanh tịnh cũng bởi ta.
Tịnh hay bất tịnh đều bởi ta,
Chớ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được.
(Pháp cú 160).

* Bản tánh không tịch. Nghĩa là bản gốc các pháp (6 trần), chúng là pháp Y tha khởi, chúng do duyên hòa hợp mà có ra, vốn chúng là Không, nên chúng vốn thanh tịnh . Chúng không làm nhiễm ô ai hết, chỉ là do chúng ta tự nhiễm ô, ví như rượu không làm ai say hết, chỉ vì chúng ta dùng không đúng cách nên chúng ta trở thành say.

Trong Tín - Tâm - Minh, Tam Tổ Tăng Xán dạy:

"Dục thủ Nhất Thừa vật ố lục trần,
Lục trần bất ố hoàn đồng Chánh Giác."

Dịch:

Muốn chứng lấy nhất Phật thừa, chớ nên chán ghét lục trần.
Chẳng cho lục trần là tốt hay xấu, thì đồng như chánh giác.

Giảng rằng:
Nhất thừa là biệt danh của tự tâm. Lục trần, lục thức, lục căn là biệt hiệu của tự tâm; đâu có thể chứng nhất thừa mà ghét lục trần! Thế thì giống như yêu tay chân mà bỏ vai lưng vậy. Phải biết, ngộ tâm này thì lục trần tức là nhất thừa, mê tâm này thì nhất thừa tức là lục trần.

Kệ rằng:

Sắc, thinh, hương, vị, và xúc pháp,
Lục trần xưa nay hợp nhất thừa.
Tình chấp lấy bỏ còn chưa dứt,
Lại nơi đất bằng nổi sóng to.

(Lục trần là sắc, thinh, hương, vị, và xúc pháp. Từ xưa nay, lục trần đều hợp với nhất thừa, chỉ cần không trụ. Nếu có tình chấp tức là có sở trụ. Hoặc lấy, bỏ chưa dứt, thì lại nơi đất bằng nổi sống to, tức là đều chướng ngại, nên chư Tổ cần mình ngộ mới được. Nếu chưa ngộ mà dùng lục căn tìm hiểu là sai lầm).
http://tuvien.com/to_su_thien/show.php?get=1&id=tintamminh-05

(hết trích)

Do vậy nên biết rằng: Thật tế các Pháp đều Thanh tịnh không ô uế.
Thấy Thâb bày Ô Uế, thấy Thế Gian này Uế Trược không phẩi là cái thấy Nhất Thừa.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
D. Tịnh- Bất Tịnh (cặp mâu thuẫn đối lập thứ 4)(tt)
*8/. "Thân Kim Cang bất hoại"

Tức là Tánh không của các pháp, vì không thì có cái gì hủy hoại được ? Mà không tức là không có không gian. Cho nên "Không" tức là Niết Bàn xét về mặt không gian.


Như trên chúng ta đã xét về nghĩa "Trường thọ".- "Trường thọ" không phải là sống 1000 năm hay triệu triệu ngàn năm. Bởi vì Pháp Tánh sanh thân không tính bằng thời gian vọng tưởng, vì dù cho con người có tưởng tượng một khoảng thời gian dài đến vô cực, thì thọ mạng của pháp thân cũng trùm lên con số đó, dù cho con người rút lại khoảng thời gian ngắn nhất là sát na, thì thọ mạng của pháp thân cũng trùm lên con số đó. Nghĩa là Thọ mạng của pháp thân là " Tại đây, bây giờ và mãi mãi thiên thu"...

+ Niết Bàn Về mặt Không gian: Là câu kệ thứ 2 "Thân Kim cang không hoại ?"

....... Kim cang là vật thể cứng chắc nhất. nó có thể phá hoại các loại vàng ngọc khác, mà không có loại đá quy nào có thể hủy hoại nó, bởi vậy đức Phật ví sự không thể hủy hoại như kim cang, đây là pháp dụ. Nhưng tất cả các hình tướng trên cõi đời có cái nào lại không hoại ? Kinh kim cang nói: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng, phi tướng tức kiến Như Lai", nghĩa là phàm những gì có tướng đều là hư vọng, nghĩa là đều có thể bị hư hoại. Bằng như thấy ai được tính chất Thật tướng của chúng là phi tướng, là "Không", đó là thấy Như Lai. Thấy Như Lai nghĩa là thấy được Pháp Tánh thân, thấy được Chơn Như.

....... Như vậy "Thân Kim Cang bất hoại" tức là Tánh không của các pháp, vì không thì có cái gì hủy hoại được ? Mà không tức là không có không gian. Cho nên "Không" tức là Niết Bàn xét về mặt không gian.
(hết trích Bài giảng kinh Đại Niết Bàn)

Tóm lại: Người tu. Khi đã nhận ra Chân Lý, Thể nhận được Pháp Thân TRƯỜNG THỌ KIM CANG BẤT HOẠI THÂN.

Nghĩa là Nhận ra Tánh Không nới Các Pháp. Thì Không có ý nghĩa gì với các mặt mâu thuẩn đối lập Tịnh hay Bát Tịnh. Vì Tất cả các Phấp Rốt ráo là Thanh Tịnh, Như Như Niết Bàn Tướng. Bất Cấu, Bất Tịnh, Bất Tăng, Bất Giảm, Bất Khứ, Bất Lai. Bất Sanh, Bất Diệt.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,834
Điểm tương tác
1,911
Điểm
113
* Thay lời kết. NIẾT BÀN- ĐẠI NIẾT BÀN.

Kinh văn: Hàng Thanh văn, Duyên giác cho đến thập trụ Đại Bồ tát có được Niết bàn, nhưng không gọi là Đại Niết bàn. Ví như thương trường người có cửa hàng, tài sản vốn liếng bực vừa là thương gia; cửa hàng, tài sản, kho đụng nhiều, gọi là đại gia.

Này Cao Quý Đức Vương ! Chữ đại có nghĩa là mầu nhiệm sâu xa khó nghĩ bàn đối với người có trí bậc hạ và bậc trung. Chỉ có Phật và Đại Bồ tát mới thấy biết hết mà thôi, vì lẽ đó cho nên gọi là Đại. Lại nữa, đại còn có nghĩa: đại tự tại, đại ngã nữa. Đại tự tại thì sở nguyện như ý. Đại ngã thì bất biến, hằng hữu.

Đại Niết bàn có tám điều tự tại mà Niết bàn của nhơn thiên, Thanh văn, Duyên giác không có:

Một, Như Lai có thể thị hiện một thân làm nhiều thân. Số thân lớn nhỏ nhiều như vi trần đầy khắp mười phương vô lượng thế giới. Thực ra thân Như Lai chẳng phải vi trần. Nói như vậy nhằm để nói lên ý nghĩa đại tự tại đấy thôi. Đại tự tại cũng gọi là Đại ngã vậy.

Hai, Như Lai thị hiện thân nhiều như vi trần đầy khắp cõi đại thiên vì thân Như Lai là vô biên thân mà nói như vậy. Thực ra thân Như Lai chẳng đầy khắp cõi đại thiên. Tự tại như vậy gọi đó là đại ngã.

Ba, Như Lai có thể đem thân khắp đại thiên này bay lên hư không nhẹ nhàng đến nơi hai mươi hằng hà sa cõi nước mà không chướng ngại bởi sự nhẹ nặng gần xa. Thực ra Như Lai không bay và cũng chẳng có nhẹ nặng. Đó là nhằm nói lên sự tự tại của Như Lai. Tự tại đó cũng là sự biểu hiện của đại ngã vậy.

Bốn, Tâm Như Lai là bất động tự tại. Do vô lượng thân hóa hiện mà có vô lượng tâm. Do vậy, Như Lai làm một việc thiện, tất cả chúng sanh được lợi ích; Như Lai ở một chỗ mà tất cả chúng sanh cõi nước khác đều thấy. Sự tự tại đó cũng là đại ngã.

Năm, Căn tự tại. Ở một căn, Như Lai có thể sử dụng thay cho cả sáu căn. Sáu căn của Như Lai thực ra chẳng có thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết. Nói sự tự tại của sáu căn nhằm nói lên cái đại ngã của Đại Niết bàn.

Sáu, Pháp tự tại. Như Lai dù có chứng đắc, thấy biết rõ thực tướng của các pháp, nhưng Như Lai không có quan niệm chứng đắc. Do vì không có quan niệm chứng đắc nên Như Lai mới được Đại Niết bàn. Pháp tự tại của Như Lai cũng tức là đại ngã.

Bảy, Diễn thuyết tự tại. Như Lai diễn thuyết chừng một bài kệ, trải vô lượng kiếp mà nghĩa lý vẫn phong phú sâu sắc nhiệm mầu. Nghĩa lý dù sâu sắc nhiệm mầu, nhưng Như Lai chẳng quan niệm rằng: Ta nói, người nghe và bài kệ để cho ta nói. Chỉ vì thuận theo thế tục, mượn ngôn thuyết mà nói vậy thôi. Sự thực tất cả pháp xa lìa văn tự ngôn thuyết. Vì tự tại như vậy cho nên gọi là đại ngã.

Tám, Như Lai biến nhất thiết xứ, nhưng phi nhất thiết pháp, ví như tánh hư không. Vì đại tự tại cho nên chúng sanh có thể thấy được. Tự tại như vậy gọi là đại ngã.

Do đại tự tại như vậy nên gọi là đại ngã. Đại ngã và đại tự tại đủ hai yếu tố đó là có Đại Niết bàn.


Trực chỉ:(ht. Thích từ Thông)

* NIẾT BÀN là gì ? Chữ NIẾT có nghĩa là KHÔNG. Chữ BÀN vô số nghĩa. Tất cả những gì hữu lậu, vô minh đen tối, phiền não khổ đau, bất bình, bất mãn, trói buộc thân tâm đều nhiếp thuộc vào nghĩa chữ BÀN. Ví dụ: NIẾT là không, BÀN là tham dục, sân nhuế, ngu si. KHÔNG tham dục, sân nhuế, ngu si là NIẾT BÀN.

* Niết bàn và Đại Niết bàn khác ở điểm nào ? Thực ra Niết bàn không phải "cảnh giới" nào hay là "cái gì" cao xa hay hùng vĩ ở đâu đâu như quan niệm của những người giàu tưởng tượng, tưởng tượng sai lầm. Cứ theo định nghĩa của chữ Niết bàn thì Niết bàn ở khắp thế gian, hiện hữu tận cùng vũ trụ. Tất cả mọi người, ai cũng có thể kiến tạo cho mình một cảnh Niết bàn cho nên Niết bàn chỉ có một thứ y nhau. Không có thứ Niết bàn dành để ưu đãi cho bất cứ hạng người nào. Do nghĩa đó mà có Niết bàn và Đại Niết bàn.

Phàm phu cũng có Niết bàn. Thanh văn, Duyên giác, những người này đều có được Niết bàn nhưng không gọi là ĐẠI, vì Niết bàn của những bậc này chưa cứu cánh viên mãn, vì chất lượng an vui của Niết bàn này có hơn kém khác nhau, tệ hại hơn nữa, lúc có, lúc không, khi sanh, khi diệt như Niết bàn của phàm phu chẳng hạn. Niết bàn Phật mới gọi là Đại. Niết bàn Phật là tự tánh thanh tịnh bản nhiên, hiện hữu, tồn tại vô thỉ vô chung, là Niết bàn vô thượng, gọi là ĐẠI NIẾT BÀN. Niết bàn Phật có những đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Đại Ngã, Đại Tự Tại, cho nên gọi là ĐẠI. Niết bàn của phàm phu, Thanh văn, Duyên giác và thập trụ Bồ tát không được những đức tánh ấy cho nên không được gọi là Đại Niết Bàn.
(hết trích)

Rất đáng tiếc. Ngài Doccoden khởi lên câu hỏi NGÃ và VÔ NGÃ là gì ?

VQ đã trả lời Ngã là Tự Tại. Nhưng ngài ấy không hội được !

Thôi tùy:

"Dược năng bất tử bệnh,
Phật hóa hữu duyên nhân"

Tùy duyên ngài ấy vậy.

Với Đoạn kinh Đại Niết Bàn thay lời kết này. Rất mong các Bạn Hữu Duyên có thể nghe được Ngã là Tự Tại do Đức Phật dạy . Để nhận ra: Đại tự tại như vậy nên gọi là đại ngã. Đại ngã và đại tự tại đủ hai yếu tố đó là có Đại Niết bàn.

Mong rằng Chúng hữu duyên không phụ lời Phật dạy.

Kính Nguyện đồng chứng Đại Niết Bàn Phật.

Nam Mô QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT .
 
Last edited:
Bên trên