- Tham gia
- 23/8/10
- Bài viết
- 3,976
- Điểm tương tác
- 789
- Điểm
- 113
Một cá nhân và hằng hà sa số cá nhân, không thể phân định ra là bao nhiêu, không thể dùng tư duy để hạn lượng được.
Mỗi cá nhân không phải tồn tại tách biệt với các cá nhân khác nhưng cũng không thể hòa tan thành các cá nhân khác. Thật vậy, nếu cá nhân tồn tại biệt lập mà không có cái thứ hai thì điều đó nghĩa là không có bất kì điều gì nơi cá nhân, không có sự hiện hữu nào, rỗng tếch; còn nếu cá nhân này bị hòa tan thành các cá nhân thì tất cả cá nhân gọp thành đúng 1 cá nhân mà không có cái gì khác, thì đó cũng là rỗng tếch, không có sự hiện thực hiện hữu.
Chỗ không hòa tan đó chính là tính chất bất sanh bất diệt, không hình tướng, không đối đãi cũng chẳng phải không đối đãi,...., không quy định một đặc tính cố định nào, như là nước mặc tình bao nhiêu sóng thì nước cứ vẫn là nước, bất động tùy thuận không làm ngăn ngại sóng và thông suốt biển khơi, xa rời tất cả luận giải biện luận. Còn gọi là Phật tánh, Tánh giác, Bản thể, tâm thể. ....
Chỗ không tồn tại tách biệt khiến các cá nhân phải tương tác cùng nhau, xuất sanh hữu tướng lập ra vũ trụ bao la mà cá nhân hóa thân là một trong số hiện tượng trong vũ trụ đó.
Cá nhân vừa không hòa tan vừa phải tương tác với những cá nhân còn lại nên xảy ra sự việc tách hai. Ban đầu cá nhân chưa có bất kì kinh nghiệm gì nên sự tách hai trong cá nhân gọi là niệm bất giác. Do chưa có bất kì kinh nghiệm gì nên cá nhân hóa thân thành vô tình chúng sanh làm đối tượng tri giác cho hữu tình chúng sanh. Trôi lăn không ngừng nghỉ lâu thật lâu, do nhân duyên chịu sự tác động của loài hữu tình, lâu dần huân tập thành chủng thức tánh bên trong mà đủ duyên thì hóa thân thành loài hữu tình (chính xác là loài người, vì chưa có tội phước nên không lên không xuống mà ở thân người).
Hữu tình chúng sanh do tiếp xúc với giáo pháp giải thoát, tiếp nhận sự huân tập của các vị đã giải thoát, hình thành chủng tánh giải thoát bên trong, huân tập đủ duyên thì thành tựu đạo quả thoát khỏi chủng loài hữu tình.
Các vị Thánh giải thoát, có tính tự giác nên tiếp cận chư Phật mười phương, rõ bản tánh tự mình, phát sanh hạt giống Phật, từ đó thực hành hạnh làm Phật, huân tập đủ duyên viên mãn thì thăng hoa thành Phật, bóng tối của sự ngu tối không còn, ánh sáng xưa nay chiếu suốt mười phương không còn điều gì ngăn ngại, tùy thuận tương tác với hết thảy chúng sanh, tách hai mà chẳng hai, bất khả tư nghì.
Tóm lại, vũ trụ có những hình thức tồn tại gì thì cá nhân sẽ trãi qua tất cả hình thức đó, vô tình này, hữu tình này, Thánh Đạo này, Phật Đạo này. Qua đó thấy rằng: hành trình tương tác là sự triển khai của tánh không hòa tan, chẳng có hình tướng gì, không bị lẩn mất, không thao tác,.... không tất cả suy lường mà cuối cùng tự chiếu suốt mười phương không nhờ bất kì điều gì như lúc xưa kia.
Mỗi cá nhân không phải tồn tại tách biệt với các cá nhân khác nhưng cũng không thể hòa tan thành các cá nhân khác. Thật vậy, nếu cá nhân tồn tại biệt lập mà không có cái thứ hai thì điều đó nghĩa là không có bất kì điều gì nơi cá nhân, không có sự hiện hữu nào, rỗng tếch; còn nếu cá nhân này bị hòa tan thành các cá nhân thì tất cả cá nhân gọp thành đúng 1 cá nhân mà không có cái gì khác, thì đó cũng là rỗng tếch, không có sự hiện thực hiện hữu.
Chỗ không hòa tan đó chính là tính chất bất sanh bất diệt, không hình tướng, không đối đãi cũng chẳng phải không đối đãi,...., không quy định một đặc tính cố định nào, như là nước mặc tình bao nhiêu sóng thì nước cứ vẫn là nước, bất động tùy thuận không làm ngăn ngại sóng và thông suốt biển khơi, xa rời tất cả luận giải biện luận. Còn gọi là Phật tánh, Tánh giác, Bản thể, tâm thể. ....
Chỗ không tồn tại tách biệt khiến các cá nhân phải tương tác cùng nhau, xuất sanh hữu tướng lập ra vũ trụ bao la mà cá nhân hóa thân là một trong số hiện tượng trong vũ trụ đó.
Cá nhân vừa không hòa tan vừa phải tương tác với những cá nhân còn lại nên xảy ra sự việc tách hai. Ban đầu cá nhân chưa có bất kì kinh nghiệm gì nên sự tách hai trong cá nhân gọi là niệm bất giác. Do chưa có bất kì kinh nghiệm gì nên cá nhân hóa thân thành vô tình chúng sanh làm đối tượng tri giác cho hữu tình chúng sanh. Trôi lăn không ngừng nghỉ lâu thật lâu, do nhân duyên chịu sự tác động của loài hữu tình, lâu dần huân tập thành chủng thức tánh bên trong mà đủ duyên thì hóa thân thành loài hữu tình (chính xác là loài người, vì chưa có tội phước nên không lên không xuống mà ở thân người).
Hữu tình chúng sanh do tiếp xúc với giáo pháp giải thoát, tiếp nhận sự huân tập của các vị đã giải thoát, hình thành chủng tánh giải thoát bên trong, huân tập đủ duyên thì thành tựu đạo quả thoát khỏi chủng loài hữu tình.
Các vị Thánh giải thoát, có tính tự giác nên tiếp cận chư Phật mười phương, rõ bản tánh tự mình, phát sanh hạt giống Phật, từ đó thực hành hạnh làm Phật, huân tập đủ duyên viên mãn thì thăng hoa thành Phật, bóng tối của sự ngu tối không còn, ánh sáng xưa nay chiếu suốt mười phương không còn điều gì ngăn ngại, tùy thuận tương tác với hết thảy chúng sanh, tách hai mà chẳng hai, bất khả tư nghì.
Tóm lại, vũ trụ có những hình thức tồn tại gì thì cá nhân sẽ trãi qua tất cả hình thức đó, vô tình này, hữu tình này, Thánh Đạo này, Phật Đạo này. Qua đó thấy rằng: hành trình tương tác là sự triển khai của tánh không hòa tan, chẳng có hình tướng gì, không bị lẩn mất, không thao tác,.... không tất cả suy lường mà cuối cùng tự chiếu suốt mười phương không nhờ bất kì điều gì như lúc xưa kia.
Sửa lần cuối: