- Tham gia
- 20/7/11
- Bài viết
- 339
- Điểm tương tác
- 375
- Điểm
- 63
Những câu truyện đã xảy ra với chính Đức Phật và các vị A La Hán trong cuộc đời hành đạo và giáo hóa chúng sanh. Đã thể hiện đầy đủ tính chất và sức mạnh của nghiệp lực. Phủ lên cuộc sống của chúng sanh không hề sai chạy một mãi may nào. Hiểu được sức mạnh của nghiệp lực, cho ta một cái nhìn thấu suốt về mọi hiện tượng xung quanh không còn nghi ngờ. Cho ta một sự ý thức sâu sắc về ba nghiệp của Thân, Khẩu và Ý. Từ đó chúng ta biết giữ gìn ba nghiệp cho thanh tịnh, giúp chúng ta tu học mau tiến và tránh tạo nghiệp xấu để phải gánh lấy quả báo trong tương lai.
Phần thứ nhất : Nghiệp lực đối với Đức Phật.
* Ngài bị Tôn Ðà Lợi đến hủy báng xúc phạm :
Đức Phật nói cho Tôn giả Xá Lợi Phất nghe rằng:
Ngày xưa, ở thời quá khứ, trong thành nọ, có một diễn viên sân khấu tài ba tên là Tịnh Nhãn, giỏi nghề ca hát. Khi ấy có một dâm nữ tên là Lộc Tướng, nhan sắc tuyệt vời, nghiêm tịnh không ai bằng. Bấy giờ Tịnh Nhãn đi đến chỗ Lộc Tướng nói với nàng rằng:
- Chúng ta nên ra ngoài thành, vào trong rừng cây, tìm chỗ đất tốt cùng nhau vui chơi.
Thấy kỹ nữ Lộc Tướng trang sức quý báo đầy người, tên Tịnh Nhãn nổi lòng tham. Sau đó Tịnh Nhãn này giết chết cô kỹ nữ Lộc Tướng để cướp của. Trong khi tìm cách phi tang thi thể của cô kỹ nử, Tịnh Nhãn thấy gần đó có một vị đạo sĩ ( Bích Chi Phật tên là Lạc Vô Vi ), liền nãy sinh ý định vu họa cho vị đạo sĩ này. Tịnh Nhãn liền cởi lấy y phục rồi chôn xác cô ta trong am của Ngài.
Khi vụ án bị phát hiện, Ngài Lạc Vô Vi đặt tay chân lên mặt đất, biết việc này là nhân duyên của đời trước nên Ngài im lặng không trả lời.
Đến khi nhà vua cho lệnh bắt trói Ngài đem cột Ngài vào con Lạc Ðà, đánh trống rao khắp hang cùng ngõ hẻm. Những người trong nước thấy vậy cho là chuyện lạ nên có người tin, có người vẫn không tin. Mọi người tụ lại để xem Ngài Lạc Vô Vi bị trói ngược trên con Lạc Ðà, mọi người đi theo sau. Tịnh Nhãn cũng đi theo sau. Thấy vậy tâm ông suy nghĩ: "Vị đạo sĩ này vô cớ mà chết oan uổng! Ðiều này chẳng phải nên có sự qúi kính sao. Chính tự tay ta giết Lộc Tướng chứ không phải đạo sĩ giết. Vậy chính ta phải chịu tội chết mà để cho đạo sĩ sống”. Tịnh Nhãn nghĩ như vậy xong, liền bước ra khỏi bức tường, chạy theo mọi người, gọi vị thượng quan nói rằng:
- Ðừng giết đạo sĩ ấy! Không phải đạo sĩ ấy giết Lộc Tướng đâú chính tôi mới là người giết cô ta. Vậy xin các Ngài hãy thả vị đạo sĩ này ra. Hãy trói tôi lại, tùy theo tội mà sử trị.
Họ liền mở trói cho vị Bích Chi Phật, rồi bắt Tịnh Nhãn trói ngược lại như họ đã làm với đạo sĩ. Bấy giờ các Thượng quan...đều hướng về Bích Chi Phật cầu xin sám hối.
Nhưng vị Bích Chi Phật Lạc Vô Vi vẫn im lặng không trả lời. Vị Bích Chi Phật suy nghĩ rằng: " Ta không nên vào thành này khất thực nữa, ta phải nên diệt độ ở đây, truớc mọi người”. Ngay khi đó, ở trên không, Ngài thiêu thân diệt độ.
Bấy giờ đại chúng thảy đều sót thương rơi lệ, hoặc có người sám hối, hoặc có người đảnh lễ. Họ thu lấy xá lợi, dựng bảo tháp ở ngã tư đường.
Tịnh Nhãn lúc đó là Đức Phật bây giờ. Lộc Tướng lúc đó chính là Tôn Ðà Lợi bây giờ vậy.
Lúc xưa Đức Phật đã giết Lộc Tướng, làm oan uổng, khốn khổ cho vị Bích Chi Phật, vì tội ác như vậy cho nên trải qua vô số kiếp trong địa ngục khổ cùng. Cái tai ương ta sót lại lúc ấy, đến nay tuy ta đã thành Phật mà vẫn bị Tôn Ðà Lợi hủy báng.
* Bị Xá-Di-Bạt-Đề hủy báng Ngài và các vị La hán:
Ở thời quá khứ lâu xa, cách đây chín mươi mốt kiếp. Lúc ấy có một vị vua tên là Thiện Thuyết, có một cái thành tên là Thiện Thuyết do vua xây cất. Trong thành có một Bà la môn tên là Diên Như Ðạt, hiếu học, quảng bác bốn bộ sách của ngoại đạo: Thiên văn, Ðồ sấm, Chiêm tướng, Nghệ thuật.
Lại có một Bà la môn tên là Phạm Thiên, giàu có, nhiều của cải. Vợ của ông ta tên là Tịnh Âm,dung mạo không ai bằng, tánh hạnh diệu hoà.
Bà la môn Phạm Thiên là đàn việt của Diên Như Ðạt, nên vợ ông ta cúng dường cho vị này đồ ẩm thực, quần áo, giường nằm, toạ cụ, thuốc men chữa bệnh lúc đau ốm.
Bấy giờ Phu nhân Tịnh Âm thấy một vị Đạo Sĩ ( là một vị Phật Độc Giác ) y phục tề chỉnh, bước đi vững chải, sáu căn định tịch tĩnh nên trong tâm rất kính mến, liền thỉnh Ngài về để cúng dường, thưa rằng:
–Từ nay về sau, đối với y phục, ẩm thực, giường nằm, thuốc men, con xin thường xuyên cúng dường. Mong Ngài vì con mà thọ nhận.
Phu nhân Tịnh Âm liền lấy đồ ẩm thực thơm ngon đổ đầy bát để cúng Ngài. Vị đạo sĩ thọ nhận xong, ôm bát bay lên hư không, bảy lần xoay chuyển, rồi bay về chỗ cũ. Khi ấy người trong thành thấy sự thần túc này, bảo rằng:
–Trong nước ta có vị này, sẽ khiến cho chúng ta có phước.
Vì vậy nhân dân cả nước vui mừng hăng hái cúng dường cho Ngài. Phu nhân Tịnh Âm cúng dường cho vị Phật Độc Giác mỗi ngày một nhiều, còn cúng dường cho Bà la môn Diên Như Ðạt ngày một ít.
Diên như đạt tự biết Phu nhân cúng dường cho mình ngày mộït ít, còn vị kia ngày một nhiều, nên mới sanh lòng đố kỵ, bài báng rằng:
–Ðạo sĩ này thật ra chẳng có giới đức gì cả. Vì sao vậy? Vì ông ta cùng Phu nhân Tịnh Âm là điều bất tịnh. Do đó mới khiến bà ta cúng dường cho ông nhiều.
Diên Như Ðạt nói với các đệ tử rằng:
–Ðạo sĩ này Phạm giới, không có hạnh tinh tấn. Vậy các đồng tử hãy trở về nhà mình nói rõ cho mọi người biết rằng: “Gã đạo sĩ này không có hạnh thanh tịnh, tư thông với Phu nhân Tịnh Âm”.
Các đồng tử thưa:
–Dạ vâng!
Rồi như lời thầy nói: “Gã đạo sĩ này thật có tâm dâm dục”.
Bấy giờ các đồng tử thọ giáo đi vào thành, đến các ngõ đường làng tuyên bố rằng:
–Gã đạo sĩ có tâm dâm dục, tư thông với Phu nhân Tịnh Âm.
Khi ấy mọi người trong nước đều nghi hoặc, cho rằng: “Bậc có thần túc như vậy mà có tiếng xấu như vậy sao?”.
Tiếng đồn xấu ấy đến thời gian lâu sau mới chấm dứt.
Sau đó, đến khi vị Phật Độc Giác hiện mười tám cách biến hoá, rồi diệt độ. Lúc ấy mọi người mới biết: Diên Như Ðạt là hư vọng, còn vị Đạo sĩ là thanh tịnh.
Diên Như Ðạt lúc ấy là ai chăng? Ðó chính là thân của Đức Phật vậy. Tịnh Âm lúc ấy chính là Xa Di Bạt. Còn các đồng tử lúc ấy nay là các vị La hán này vậy.
" Lúc ấy vì ta mất sự cúng dường nên mới sanh tâm đố kỵ, ganh ghét, cùng với các ngươi huỷ báng vị Phật Độc Giác. Do nhân duyên đó nên ta và các ngươi cùng vào địa ngục chịu thống khổ. Do tai ương này còn sót lại, nay ta tuy đã làm Phật, cùng với các ngươi vẫn bị Xa Di Bạt huỷ báng."
* Đức Thế Tôn bị đau đầu và dòng họ Thích bị tàn sát:
Một thời đức Phật ở tại con suối lớn tên là A Nậu, cùng với các vị đại Tỳ kheo, đều là bậc A la hán, lục thông, thần túc, chỉ trừ Tỳ kheo là A Nan.
Bấy giờ đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:
–Vào thời quá khứ lâu xa về trước, trong thành lớn của La Duyệt Kỳ, gặp vào lúc nạn thiên tai, lúa thóc khan hiếm, con người đi nhặt xương trắng về đập vụn nấu nước để uống, đào gốc các cây cỏ để ăn sống qua ngày. Lúc ấy người ta lấy một thăng vàng (một phần mười đấu) đổi lấy một thăng thốc.
Khi ấy ở La Duyệt Kỳ có một thôn lớn, có hơn mấy trăm ngôi nhà gọi là Chi Việt. Không xa Phía Ðông cái thôn có một cái hồ rất lớn tên là Ða Ngư. Người của thôn Chi Việt dẫn vợ con đến bên cái hồ lớn nhiều cá ấy, dùng thuyền và lưới vây bắt cá ăn thịt mỗi ngày.
Cá trong hồ mỗi ngày vơi đi, dân thôn phát hiện có một con cá rất to, sống trầm dưới đáy hồ. Vì thiếu ăn, người dân trong thôn tuy có kính sợ. Nhưng số người này bảo với những người kia cứ dùng thật nhiều lưới kết lại với nhau thành một tấm lưới thật dài và rộng lớn, rồi thuyền nối thuyền dùng sức người thật đông để vây bắt.
Khi kéo được cá lên, vì thấy cá quá to, người dân trong thôn vây lại, từng người dùng dao xẻ lấy thịt trên mình cá. Từng khối thịt được xẻ trong khi con cá quần quại vì đau đớn. Cái đau đớn khủng khiếp đó bị kéo dài liên tục trong vài ngày vì người dân trong thôn muốn thịt cá được tươi, giữ lâu không hư nên đã không giết cá chết, mà vẫn để cá nằm trong nước, rồi hôm sau kéo lên xẻ thịt tiếp.
Chính cái đau đớn khủng khiếp đó, nổi uất hận. Mà khi chết đi, đã để lại trong tàng thức của con cá đó một nổi hận to lớn. Và hôm nay nghiệp đã trổ quả, tất cả phải chấp nhận, không thể thay đổi được.
Lúc ấy ta là một cậu bé mới bốn tuổi, thấy cá to thì rất vui, lấy cây đập lên đầu cá như một trò tiêu khiển.
Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:
–Ngươi có biết người nam, nữ, bé, lớn của thôn Chi Việt lúc ấy là ai chăng? Ðó là giòng họ Thích của nước Ca Tỳ La Vệ hiện nay vậy. Cậu bé lúc ấy chính là thân của ta bấy giờ. Con cá Phù Ngư lúc đó thì nay là vua Tỳ Lưu Luy.
Nay ta đã được thành quả chánh đẳng chánh giác, nhưng vì nhân duyên còn sót lại kiếp trước, nên vua Tỳ Lưu Luy chinh phạt giòng họ Thích, thì lúc đó ta bị đau đầu.
Vua Tỳ Lưu Luy được Đức Phật nhiều lần khuyên can nhưng tâm thù hận quá sâu nặng, nên vẫn âm thầm trả thù.
Nhân duyên nghiệp báo ngày xưa hội tụ với duyên hiện tại. Do từ bé Ông bị dòng họ Thích sĩ nhục vì là con của một tỳ nữ của họ Thích, đem tráo công chúa gã cho vua nước Ba Tư Nặc, sinh ra hai thái tử đó là Thái tử Kỳ Đà và Thái tử Tỳ Lưu Luy. Sau khi vua Ba Tư Nặc chết, Tỳ Lưu Luy giết em là thái tử Kỳ Đà, đoạt ngôi vua. Sau đó liền đem quân tàn sát dòng họ Thích.
Sau khi vua Tỳ Lưu Luy tàn sát dòng họ Thích. Đức Phật tuyên bố Ông ta sẽ bị lửa thiêu chết trong vòng ba ngày. Lời truyền đến tay Tỳ Lưu Luy, vì quá sợ hãi. Ông cho chuẩn bị một chiếc thuyền lớn có đầy đủ tiện nghi. Rồi cùng quần thần xu nịnh, tỳ tùng xuống thuyền dong ra khơi. Ông ta nghĩ rằng ở giữa biển nước thì sẽ không bao giờ chết cháy. Nhưng quả báo thì không thể né tránh dù lên trời hay xuống biển. Hai ngày trôi qua, tưởng đã yên lặng. Đến đêm thứ ba, lòng háo hức trông trời sáng để tự mãn là sẽ không có chuyện gì có thể xảy đến. Đêm thứ ba ấy, một tỳ nữ chong đèn bị gió thổi mạnh, té ngã người, đánh rơi vở đèn, dầu cá gặp lửa thổi bùng lên. Trong màn đêm say ngủ, chỉ người tỳ nữ lúng túng, la toáng lên. Khi mọi người bừng dậy thì ngọn lửa đã bốc cháy dữ dội. Chỉ trong chốc lát, chiếc thuyền đã thành một ngọn đuốc khổng lồ sáng rực trên mặt biển. Những người biết bơi thay nhau phóng vào lòng biển đen ngòm mưu cầu sự sống. Trên ấy, Ông vua Tỳ Lưu Luy hớt hãi trong đám người loạn xạ gào thét và chìm vào trong biển lửa.
* Đức Phật bị cây giáo đâm chân:
Một thời Phật ở tại Tịnh xá Trúc Viên, La Duyệt Kỳ, cùng với chúng Ðại Tỳ kheo Tăng.
Ðức Thế Tôn vào lúc sáng sớm, mặc y bưng bát cùng với chúng Đại Tỳ kheo Tăng và tôn giả A Nan, cùng vào thành La Duyệt Kỳ để khất thực, đang đến các nhà bỗng thấy một thanh gỗ dài của người đẻo gỗ cứng trong xóm, đang chạy loạn xạ theo bên Phật và đứng ngay trước Ngài.
Ðức Phật liền nghĩ:
–Ðiều này do nhân duyên kiếp trước do chính ta tạo ra, nay ta phải gánh lấy.
Mọi người thấy chuyện lạ đều xúm lại xem. Họ thấy xong, kinh ngạc, la thất thanh.
Ðức Phật lại nghĩ:
–Nay ta nên hiện rõ sự quả báo kiếp trước, cho mọi người thấy, tin và hiểu, để họ không dám tạo điều ác.
Do đó, đức Phật bay lên hư không, cách mặt đất một nhẫn; cây giáo nhọn liền đuổi theo đức Phật cũng cao một nhẫn. Đức Phật bay lên cao hơn, cây giáo cũng luôn đuổi theo.
Ðức Phật cùng chúng Tỳ kheo Tăng ra khỏi thành La Duyệt Kỳ mà cây giáo vẫn đuổi theo đức Phật. Khi ấy có nhiều người trong thành đi theo đức Phật ra khỏi thành.
Đức Thế Tôn bảo mọi người trở về thành, đừng theo Ngài. Riêng Ngài trở về Tinh xá Trúc Viên, tự ở trong phòng bảo các Tỳ kheo:
–Các ngươi hãy trở về phòng mình.
Mọi người vâng lời đều trở về phòng.
Tôn giả A Nan hỏi đức Phật:
–Con sẽ làm gì?
Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:
–Ngươi cũng trở về phòng của mình.
Tôn giả A Nan trở về phòng.
Ðức Phật liền suy nghĩ:
–Việc này do đời trước ta tự tạo, chắc chắn ta phải gánh lấy. Ngài liền lấy Ðại y, gấp làm bốn lớp, ngồi lên chỗ ngồi cũ. Ðức Phật liền đưa chân mặt ra. Khi ấy cây giáo liền từ gót chân Ngài đưa lên rồi đâm xuống, rồi xuyên qua lòng đất, mất hút.
–Mặt đất bây giờ chấn động, tôn giả A Nan, các Tỳ kheo đều tự nghĩ rằng chắc cây giáo đã gây ra vết thương cho đức Phật rồi!
Khi đức Phật bị cây giáo đâm xong, liền bị đau một cách khổ sở, đau gần đứt hơi thở. Tôn giả A Nan liền đến chỗ đức Phật, thấy cây giáo đâm vào chân Ngài làm bị thương, liền bị ngất, ngã nhào xuống đất. Ðức Phật liền bảo lấy nước rảy lên tôn giả A Nan, tôn giả A Nan tỉnh dậy, đảnh lễ dưới chân đức Phật, xoa vào chân Ngài, khóc lóc rơi lệ nói rằng:
–Ðức Phật nhờ chân này mà đến dưới gốc cây hàng phục ma quân; rồi lên đến cõi trời thứ ba mươi ba thuyết pháp cho mẹ Ngài. Thân của đức Thế Tôn là Kim Cương, do nhân duyên gì mà một cây giáo nhỏ lại làm hại Ngài được?!
Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:
–Thôi đi, chớ có buồn rầu khóc lóc nữa! Vì nhân duyên của thế gian nên bị luân chuyển sanh tử, mới có khổ hoạn này.
Tôn giả A Nan hỏi đức Phật:
–Nay cái vết thương này gây nên đau nhức, nó sẽ phát triển hay sẽ bớt dần?
Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:
–Dần dần sẽ bớt.
Khi ấy, tôn giả Xá Lợi Phất dẫn các Tỳ kheo Tăng đến chỗ đức Phật, cúi lạy dưới chân Ngài, rồi đứng qua một bên đau xót.
Bấy giờ trong chúng Tỳ kheo có vị lậu chưa tận, thấy vết thương ấy kêu khóc bi ai, rơi lệ than rằng:
–Ðức Thế Tôn đại từ bi, không có vật nào mà không tế độ, nhưng vì sao lại bị sự đau đớn này?!
Ðức Phật bảo các vị ấy rằng:
–Thôi đi, đừng khóc! Ðời trước tự ta đã tạo ra việc này, nên phải gánh lấy, không thế trốn tránh ở đâu được. Nó cũng không phải do cha tạo ra, cũng không phải do mẹ tạo ra, cũng không phải do vua tạo ra, cũng không phải do trời tạo ra, cũng không phải do Sa môn, Bà la môn tạo ra. Chính ta đã tạo thì nay ta Phải gánh lấy.
Các vị lậu tận, thần thông, đều im lặng suy nghĩ: “Ngày trước đức Phật đã từng nói kệ:
Người đời đã tạo tác
Hoặc làm thiện hay ác
Việc ấy trở lại mình
Không mất, không hư nát.
Bấy giờ Kỳ Bà nghe đức Phật bị cây giáo đâm chân, khóc lóc đi đến chỗ vua A Xà Thế.
Vua A Xà Thế hỏi:
–Vì sao khanh khóc?
Kỳ Bà đáp:
–Tôi nghe đức Phật bị cây giáo đâm chân, nên tôi khóc.
Vua A Xà Thế nghe lời nói ấy xong, từ trên giường chết ngất, rơi xuống đất. Khi ấy, toàn cung điện trong và ngoài đều kinh hoàng, sợ hãi.
Nhà vua đứng dậy, rơi nước mắt, ra lệnh quần thần:
–Hãy mau chuẩn bị xe cộ, ta muốn đến chỗ đức Phật.
Nhà vua liền xa giá, đi ra khỏi thành. Bốn tộc tánh trong thành, thanh tín nam nữ, nghe đức Phật bị cây thương đâm vào chân, vì vậy nhà vua cùng em là Kỳ Bà, với dân chúng trong thành có cả trăm ngàn người, cùng đi đến chỗ đức Phật. Vua xuống xe, cởi mũ, bỏ kiếm, cất lộng, đi bộ đến chỗ đức Phật. Lúc ấy đức Phật đang nằm bên hông Phải.
Nhà vua đảnh lễ đức Phật xong, lấy tay nắm chân đức Phật, xoa nén, miệng thì tự xưng quốc hiệu, tên họ rằng:
–Con là A Xà Thế, vua nước Ma Kiệt, thăm hỏi đức Thế Tôn : “Sự đau nhức của vết thương có giảm chút nào chăng?”.
Ðức Phật trả lời vua A Xà Thế:
–Mong Ðại vương thường được an ổn, trường thọ, không bệnh, vua nên lấy pháp trị dân, đừng hành động phi pháp.
Ðức Phật bảo nhà vua ngồi xuống. Nhà vua liền ngồi. Nhà vua hỏi đức Phật:
–Con theo đức Như Lai được nghe rằng: “Thân của Phật là Kim Cang, không thể huỷ hoại được. Không rõ vì sao bây giờ lại bị cây giáo bằng gỗ đâm vào chân?
Ðức Phật bảo nhà vua:
–Tất cả các pháp đều do nhân duyên mà huỷ hoại. Thân của ta tuy là Kim Cương, gương giáo không thể phá hoại được, nhưng do nhân duyên kiếp trước huỷ hoại.
Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài tụng:
Người đời đã tạo tác
Liền tự thấy hành động.
Làm thiện được báo thiện
Làm ác bị báo ác.
Nhà vua bảo Kà Bà:
–Ngươi hoà hiệp các thứ thuốc thật tốt rửa vết thương, chữa trị làm cho vết thương của đức Phật mau lành!
Kà Bà thưa:
–Xin vâng!
Kỳ Bà liền đảnh lễ đức Phật, rửa chân Ngài, rồi đắp thuốc để sanh da. Lấy tay xoa bớp chân Ngài, dùng miệng chú nguyện: “Mong đức Phật sống lâu, mong tai hoạn này chóng tiêu trừ, mong cho tất cả chúng sanh được vĩnh viễn thoát khỏi cái khổ”. Ông liền đứng lên đảnh lễ đức Phật, rồi đứng qua một bên.
Đức Phật bảo với Đại chúng và tôn giả Xá Lợi Phất:
Ngày xưa, vô số A tăng kỳ kiếp về trước, bấy giờ có đội khách buôn. Họ đều bỏ chung tiền của, muốn dóng thuyền đi biển, công việc đã xong, mở neo, trương buồm, xuất hành. Gió thổi đưa đi, trên thuyền lúc bấy giờ có người dã tâm, muốn giết hết người trên thuyền đoạt của. Ta biết được dã tâm đó, nên đã ra tay sát hại y. Dùng mâu kích đâm làm cho y gãy chân rồi mạng chung. Mọi việc vẫn chưa diễn ra, ta lại tự ý định đoạt và hành động nên mới có quả báo ngày hôm nay.
Bấy giờ đức Phật vì vua A Xà Thế, tất cả mọi người trong hội, nói Pháp Tứ Ðế.
Khi đức Phật thuyết như vậy, sáu mươi vị Tỳ kheo và những người nghe trong hội, được lậu tận, ý khai mở, được Pháp nhãn thanh tịnh.
* Nhân duyên Ðề Bà Ðạt Ða lăn đá giết Đức Phật:
Khi ấy Tu Ma Ðề cùng Tu Da Xá đi lên núi. Khi đã lên đến gần mé núi, nơi chổ cao nguy hiểm. Liền gạt Tu Da Xá đến bên, xô người em xuống núi, khiến cho người em chết ngay.
Ðức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:
- Người tên là Tu Ma Ðề lúc ấy thì chính là thân của ta. Người em là Tu
Da Xá lúc ấy thì nay là Ðề Bà Ðạt Ða.
Ðức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:
- Lúc ấy vì ta tham của cải mà giết hại người em. Bây giờ duyên xưa còn sót lại, nay ta tuy đã được thành Ðẳng Chánh giác nhưng không thoát khỏi quả báo đời trước. Ta ở trên núi Kỳ Xà Quật, đang kinh hành trên mặt đất, bị Ðề Bà Ðạt Ða dùng cây nâng tản đá dài sáu trượng, rộng ba trượng, đội lên đầu ta. Khi ấy vị thần cuả núi Kỳ Xà Quật tên là Tỳ La lấy tay chụp đá. Chỉ có một mẫu đá nhỏ rơi trúng ngón chân cái của ta, làm rách da chảy máu.
* Ngài và các vị Tỳ kheo phải ăn mã mạch ( một loại thốc nhuyễn như cám dành cho ngựa ) suốt ba tháng:
Một thời đức Phật ở tại con suối lớn A Nậu, cùng với đại chúng Tỳ kheo, đều là bậc A la hán, đầy đủ lục thông, thần túc.
Bấy giờ, đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:
–Thời quá khứ lâu xa, khi ấy có một vị Phật tên là Tỳ Bà Diếp Như Lai, Chí chơn, Ðẳng chánh giác, Minh hạnh thành, là bậc Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, ở trong thành Bàn Ðầu Ma Bạt, cùng với chúng Ðại Tỳ kheo là mười sáu vạn tám ngàn vị.
Bấy giờ nhà vua tên là Bàn Ðầu, cùng với quần thần, thứ dân, thanh tín sĩ và thanh tín nữ, đem bốn sự cúng dường cho đức Như Lai Tỳ Bà Diếp cùng với đại chúng chẳng thiếu thứ gì. Khi ấy ở trong thành có một Đạo sĩ tên là Nhân Ðề Kỳ Lợi cũng biết về pháp thuật. Ông dạy học cho chúng đồng tử.
Bấy giờ nhà vua mở hội, trước tiên mời đức Phật, đức Phật im lặng nhận lời. Nhà vua trở về cung chuẩn bị các món ngon bổ và đặt sàn toạ, dùng nệm, thảm bằng nỉ lót sàn nhà.
Nhà vua đến đức Phật bưng lò hương, ở trên toà, quỳ dài bạch rằng:
–Nay đã đúng giờ cúi mong đức Thế Tôn hạ cố.
Khi ấy đức Phật Tỳ Bà Diếp thấy thì giờ đã đến, liền bảo đại chúng mặc y ôm bát, đến phó hội, theo lời thỉnh của nhà vua. Bấy giờ đại chúng vây quanh, đi đến cung vua, rồi ngồi trên toà. Nhà vua liền mời đức Phật và đại chúng thọ thực. Tự tay vua bới sớt thức ăn, các thứ ngon bổ để dâng cúng. Lúc ấy có một Tỳ kheo là Di Lặc bị bệnh, không đến dự được.
Ðức Phật và đại chúng thọ thực xong, liền trở về. Khi trở về, các Ngài có nhận đồ ăn của nhà vua cúng dường cho các Tỳ kheo bệnh. Lúc các Ngài đi ngang qua hòn núi của Phạm chí, ông ta thấy đồ ăn ngon, liền sanh lòng đố kỵ, nói rằng:
– Sa môn trọc đầu này, đúng ra phải ăn lúa của ngựa, chứ không nên cúng dường món ăn ngon bổ này.
Ông bảo các đệ tử:
–Các ngươi thấy gã đạo nhân trọc đầu này ăn toàn đồ ăn ngon bổ chăng?
Các đồng tử thưa:
–Quả thật chúng con có thấy.
Họ nói:
–Thầy trò của bọn người này phải ăn lúa ngựa mới đúng.
Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:
–Ngươi có biết người Phạm Chí ở núi là ai chăng? Chính là thân của ta đó. Còn chúng đồng tử lúc đó thì nay là các vị La hán này. Còn Tỳ kheo Di Lặc bị bệnh lúc ấy thì nay là Bồ Tát Di Lặc.
Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:
–Lúc ấy vì ta có lòng đố kỵ nó rằng: “Bọn người này không nên ăn những món ăn ngon bổ. Họ nên ăn lúa ngựa mới phải”. Lúc ấy các ngươi cũng nói vậy, do đó ta và các ngươi trải qua vô số năm ở trong địa ngục chịu thống khổ. Nay ta tuy thành Phật, nhưng vì nghiệp duyên sót lại đời trước, nên ta và các ngươi phải ăn lúa ngựa ngót chín mươi ngày tại ấp Tỳ Lan.
Ngươi xem đức Như Lai, các điều ác đã hết, các điều thiện đầy đủ. Với các Trời, Rồng, Quỷ thần, vua Trời Ðế Thích, quần thần nhân dân và chúng sanh, Ngài đều muốn độ thoát. Vậy mà vẫn không tránh khỏi nhân duyên kiếp đời trước này, huống chi bọn ngu si chưa đắc đạo?! Này Xá Lợi Phất! Phải phòng hộ thân, khẩu, ý.
Phần thứ hai : Nghiệp lực đối với A La Hán