Bạn nghĩ gì 5?

lele

Trưởng Ban Tin Tức
Staff member
Tham gia
19 Thg 10 2006
Bài viết
1,366
Điểm tương tác
70
Điểm
48
Bài viết này tiếp tục trích dẫn và bàn luận những vấn đề từ nội dung quyển sách ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” của tác giả Duy Tuệ*

<OBJECT id=ieooui classid=clsid:38481807-CA0E-42D2-BF39-B33AF135CC4D></OBJECT><STYLE>st1\:*{behavior:url(#ieooui) }</STYLE>
> Cùng tìm hiểu cái gì đàng sau hiện tượng này?

Loạt bài viết này của chúng tôi, trước hết, xin được hiểu như một loạt bài điểm sách, bình luận nội dung sách, với tựa đề quyển sách liên hệ đã nêu ở trên, được tiếp thị đến tôi trong một hoàn cảnh khá đặc biệt, như đã miêu tả ở bài trước.
Với những khía cạnh nội dung mà chúng ta đã bàn luận, quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” từ trang 108 trở đi có một số ý lặp lại với những ý đã được nêu trong nội dung những đoạn đã trích làm dẫn chứng trong bài trước, thậm chí, có khi lặp lại 2 lần trong một trang. Có thể hiểu đó là vì tác giả muốn nhấn mạnh đến điều đã nói. Vì vậy, chúng tôi vẫn trích dẫn đúng theo sách để việc tham khảo của bạn đọc được toàn vẹn.
Dưới đây là những đoạn được tiếp tục trích từ quyển sách nói trên, mang nội dung ghi nhận đánh giá khác thường về Phật giáo.
- Trang 122, đoạn trên: “Nếu Bát Chánh đạo giải quyết được sự thay đổi có tính hình tướng đó thì tại sao người ta, quý Phật tử và tăng ni học mãi vẫn không giải quyết được”.
- Trang 122, đoạn dưới: “Nếu nói Bát Chánh Đạo là chìa khóa giải quyết vấn đề khổ đau, thì tại sao mấy ngàn năm qua không phát huy tác dụng? Tám con đường đó là để giải quyết tình trạng của cái đầu mỗi người, chứ không phải lên thiên đàng hay về cõi Phật như kinh sách nói, nhưng tại sao không giải quyết được?”.
- Trang 124: “Ngày xưa người ta còn nghi ngờ, ít người hiểu nên người hiểu được gọi là chứng đắc. Ngày nay, ai cũng biết rồi thì không có chứng đắc nữa”.
- Trang 134: “CÓ CẦN ĐI TU NỮA KHÔNG? Nếu đã thấy rõ được như vậy, quý vị nghĩ xem có cần tu nữa không? Có cần tập trung hàng trăm hày ngàn ngàn lại để tu không? Mà liệu tập trung vậy có đạt được kết quả gì không? Tôi nói vấn đề này để cứu quý vị và những người đang vô minh. Tốn tiền, thời gian nhưng chắc chắn không có hiệu quả… Nhưng việc tập trung lại cho đông người trong khoảng thời gian tu học là làm việc khác, chứ không phải để thấy Phật của mình. Làm việc khác thì phải trả giá bằng tiền, sự phiền muộn, sức khỏe, thời gian. Phải bỏ nhà cửa, công ăn việc làm, thậm chí còn làm phiền người khác. Tập trung như thế chỉ để mua sự an lạc tạm thời, rồi đâu lại vào đó”. Người trích dẫn nhấn mạnh câu “Tôi nói vấn đề này để cứu quý vị và những người đang vô minh”.
- Trang 182: “Phần một, hàng ngày nhiều người dùng khái niệm nhân quả mang tính tiêu cực nhiều hơn là tích cực. Ví dụ, khi họ bị ai đó lường gạt tình hay tiền thì nạn nhân hay đem luật nhân quả ra để an ủi mình bằng cách: “Đời trước mình gây khổ đau cho người ta bây giờ đời này mình phải trả.”. Hoặc trường hợp hiểu lầm khác là sao mình làm phước mà cứ mang họa. Đem chuyện này hỏi các nhà sư, kể cả các sư ngoại mà tín đồ Phật giáo Việt Nam tin tưởng như sự linh thiêng, các sư ấy lại nói: “Họa là do nhân xấu kiếp trước gây ra bây giờ mới trổ.Còn phước mình tạo bây giờ kiếp sau phúc mới đến”. Việc giải thích và hiểu tiêu cực như vậy đã gây ra biết bao hoang mang cho người Phật tử.”.
- Trang 189: “Ví dụ, tôi nói: “Đức Phật chắc gì đã ra bốn cửa thành, chắc gì thấy người ta khổ mà đi tìm đường cứu khổ, biết đâu đức Phật lúc ấy đang có vấn đề gia đình nên bỏ đi thì sao?”. Điều đó có thể làm những người quá tôn vinh đức Phật bị “sốc”.
- Trang 206: “Quý vị thấy, sau khi đạt được sự an lạc thì đức Phật ngồi suy tư không biết có ai hiểu những điều mình muốn truyền trao hay không? Ở đây, tôi muốn nói đến sự nguy hiểm của suy nghĩ, bởi chính nó đã dẫn đến bế tắc khiến cho ông ấy muốn từ bỏ xác thân. Tuy nhiên, sau khi nghe chư thiên nói sẽ có người hiểu được thì ông ấy bắt đầu có niềm tin, ước mơ và cố gắng đi trao truyền”.
Những đoạn trích cho chúng ta cái nhìn khá rõ về những điều tác giả quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” nói về Phật giáo, đặc biệt là một số hoạt động của Phật giáo Việt Nam hiện đại. Thái độ của tác giả đối với đạo Phật hiện hình với những nhìn nhận tiêu cực nhất, nặng nề nhất.
Tại Việt Nam, một cách tư duy như thế và phát biểu cực đoan như thế về đạo Phật, có thể coi là lần đầu tiên, kể từ Alechxandre de Rhodes.
Nếu theo cái cách mà tác giả Duy Tuệ nhận định thì qua những lượng từ và cụm từ chỉ lượng “đa số”, “không ít” thì nói chung, Tăng Ni Phật tử Việt Nam, phần lớn đều là những kẻ “vô minh”, “hiểu sai”, thậm chí làm những việc phi pháp “cho vay nặng lãi”, “buôn bán kim cương, đô la, vàng bạc trong chùa”, “chỉ xuất gia bên ngoài chứ không xuất gia bên trong”… Riêng đối với xuất gia, thì tác giả Duy Tuệ cho rằng là việc sai lầm “hết đời này đến đời khác”, người trích dẫn nhấn mạnh.
Những lời nói như vậy, thiết tưởng, trước hết là sự lăng mạ đối với hàng giáo phẩm Phật giáo Việt Nam, đối với Tăng Ni Phật tử Việt Nam.
Nhưng mục tiêu của sự lăng mạ không chỉ là những người theo đạo Phật ở những vị trí khác nhau nói chung, mà trên hết gồm cả Đức Phật và giáo pháp.
Chúng ta xem qua những đoạn nói về đức Phật và giáo pháp của Phật dẫn lại từ sách của Duy Tuệ, với cách gọi nước đôi “Đức Phật/ông ấy” thì quá rõ.
Cái nội dung xúc phạm Phật giáo, Đức Phật, Phật pháp đó là lần đầu tiên sau hơn nửa thiên niên kỷ, tức hơn năm trăm năm. Nhưng cái cách làm như của tác giả Duy Tuệ, trước hết qua quyển sách ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, chưa nói đến những lời trong các bài gọi là pháp âm, mà sự xúc phạm Phật giáo, Đức Phật, Phật pháp, hàng giáo phẩm Phật giáo Việt Nam lên đến mức nặng nề hơn rất nhiều, có thể nói là chưa từng có ai làm như thế. Vừa làm như giảng giải, quảng bá giáo pháp Đạo Phật, vừa lại hủy báng ở mức cao nhất có thể.
Alechxandre de Rhodes rõ ràng đứng ở vị trí người đi cải đạo tín đồ Phật giáo, từ bên ngoài mà hủy báng Đạo Phật, nhổ tận gốc rễ văn hóa bản địa.
Còn ở đây, tác giả Duy Tuệ di chuyển qua lại một cách mâu thuẫn giữa 2 vị trí đối lập nhau. Có nhiều chỗ, tưởng chừng ông nói như một người có đạo tâm thực sự, rồi bất ngờ, lại ngoặc ngược. Diễn biến như thế xảy ra như chúng ta đã thấy trong ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, cũng như xuyên suốt toàn bộ những gì ông ta nói và viết quả là một kỹ thuật đặc biệt, với một cường độ đặc biệt!
Bà Thanh Hải, tuy cũng tự phong chứng đắc, tự xưng Supreme Master – Vô Thượng sư, có lúc mặc y phục hóa trang thành Phật Quan Âm để chụp ảnh, quay phim, đưa lên truyền hình, nhưng vẫn chưa có lời lẽ đến mức như tác giả Duy Tuệ (đó là chỉ giới hạn trong quyển sách mà chúng ta đang bàn luận, còn trong những chương trình audio – video của “đạo sư” Duy Tuệ, thì bà Thanh Hải tuy là “Supreme Master” vẫn không nghĩa lý gì, thấm tháp gì so với “Master” Duy Tuệ) trong việc xúc phạm Phật giáo.
Để vấn đề ngày càng sáng tỏ, mong bạn đọc cùng suy nghĩ, tìm hiểu xem tại sao Duy Tuệ lại công kích Phật giáo? Để làm gì” Và tại sao ông ta lại sử dụng các cách nước đôi như vậy?
Minh Thạnh

(*) Công ty Minh Triết và Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2011
 

lele

Trưởng Ban Tin Tức
Staff member
Tham gia
19 Thg 10 2006
Bài viết
1,366
Điểm tương tác
70
Điểm
48
Thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”.

Duy Tuệ cạo đầu, mặc y phục na ná với tu sĩ Phật giáo, cũng bàn luận về Phật học, tu thiền, đôi khi choàng cả “y hậu” màu đỏ làm chủ lễ... Với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn cho rằng ông ta là Tăng sĩ Phật giáo, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhầm cho rằng “thiền minh triết” là thiền Phật giáo, “sách viết về lối sống” của ông ta là triết lý sống nhà Phật... như một số cơ quan truyền thông, đài truyền hình đã từng giới thiệu. Tiếp theo những bài viết trên Giác Ngộ Online (www.giacngo.vn), Câu chuyện trong tuần kỳ này giới thiệu bài viết của tác giả Thái Nam Thắng, góp thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”.

“Đạo sư” Duy Tuệ cũng có một xuất phát điểm như “Vô thượng sư” Thanh Hải, đó là tiếp cận các nhà sư và tìm hiểu giáo lý đạo Phật, sau đó tuyên bố mình đã “chứng ngộ”, rồi nhanh chóng lập pháp môn, lập phái để truyền “đạo”. Tuy nhiên, “Vô thượng sư” Thanh Hải được xem là một dạng tà đạo biến tướng thì Duy Tuệ lại có một vỏ bọc kỹ hơn, an toàn hơn khi núp dưới danh xưng “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” do chính ông ta làm Chủ tịch Hội đồng sáng lập.
Cả Thanh Hải và Duy Tuệ đều học lỏm các giáo lý của đạo Phật, mượn vào các nội dung, hình thức Phật giáo để phổ biến những thứ “pháp môn” đã được gia công nhào nặn. Duy Tuệ, một người thế tục, bỗng một hôm, cạo trọc đầu, mặc áo tràng tay thụng màu đỏ boọc-đô có viền đen, trông giống như các nhà sư, khiến cho mọi người hiểu lầm rằng nó thuộc về đạo Phật hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Điều đáng nói, ban đầu cả Duy Tuệ và Thanh Hải đều thuyết giảng khá hay về giáo lý Phật giáo, sau một thời gian chiếm được niềm tin của những người có cảm tình với Phật giáo, họ liền chuyển sang chống phá Phật giáo như xuyên tạc kinh điển, phủ nhận những giáo lý căn bản của đạo Phật, kêu gọi mọi người rời xa “Tam bảo” (Phật - Pháp - Tăng), không cần phải tìm đến chùa chiền hay lễ tụng, chỉ cần làm theo những điều họ “phát minh” ra là sẽ đạt đạo.
Nhưng nếu chỉ xuyên tạc, chống phá Phật giáo thì mọi người sẽ nghi ngờ động cơ không trong sáng đó, nên họ mới lồng ghép những việc như kêu gọi bảo vệ môi trường, kêu gọi tình yêu thương; phong cho những người tu theo là “hiền giả minh triết”, “doanh nhân minh triết”; gọi những người trẻ là “niềm tự hào dân tộc”; lập các quỹ từ thiện…, rồi nhân đó “khai ngộ” bằng một mớ những giáo lý pha tạp, lẫn lộn giữa Phật tính và Tiên thiên, Thượng đế, đồng thời sử dụng các thuật ngữ Phật giáo, các hình thức như ngồi thiền, quán niệm, khai mở ánh sáng, minh triết…
Duy Tuệ xuất hiện trong khoảng chục năm nay, tuy nhiên không có cách gì để chính danh hoạt động như một tổ chức gắn với danh nghĩa “Phật giáo Việt Nam”. Đúng lúc ấy, có một nhóm trí thức quan tâm và bàn đến “Minh triết Việt”, Duy Tuệ nhanh nhảu chớp thời cơ để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”, để nhập nhằng với Thiền Minh Sát - một phương pháp thiền căn bản trong đạo Phật. Phật giáo chính thống ở các quốc gia dù có phát triển nhiều dòng thiền, nhiều pháp môn, nhưng vẫn phải dựa trên căn bản của quá trình tu học Giới, Định, Tuệ (Giới sinh Định, Định sinh Tuệ, trong Giới có Định, Tuệ, trong Định có Giới, Tuệ, trong Tuệ có Giới, Định).
Sự đại vọng ngữ khi tự xưng là “Đạo sư” của Duy Tuệ đã phản lại với những phương pháp tu tập Giới, Định, Tuệ. Đáng nói, do thiếu lương thiện ngay từ động cơ ban đầu, nên Duy Tuệ đã nhào nặn các phương pháp thiền của Phật giáo để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”. Đến khi thấy mọi người quan tâm đến tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Duy Tuệ cũng nhanh nhảu tiếp cận và mượn vào “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” để trao tặng tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông cho Trung tâm Phật giáo Quốc tế của Thái Lan nhằm tìm cho mình những mối quan hệ mang tính “quốc tế” (sic). Sau đó, Duy Tuệ dùng chính những ảnh hưởng này để tuyên truyền chống phá Phật giáo. Những giáo lý căn bản của Phật giáo như “Nhân quả”, “Nghiệp báo”, “Tứ đế”, “Bát Chánh đạo”… đều bị Duy Tuệ đem ra xuyên tạc. Duy Tuệ ra sức bác bỏ giáo lý “Bát Chánh đạo” (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) chỉ vì bản thân việc làm của Duy Tuệ không những không có “chính danh” mà còn không có bất kỳ chữ “chánh” nào như tám chữ “chánh” đã nêu.
Duy Tuệ đang cố gắng lập nhóm để sinh hoạt, và rất có thể đây là sẽ một biến tướng khác giống như “đạo” của Thanh Hải trong một tương lai không xa. Một khi nó mọc chân rết và bám chắc ở Việt Nam dưới những vỏ bọc an toàn hơn là “Phật học Việt Nam”, “UNESCO”, “Trần Nhân Tông” gì gì đó mang dáng dấp của “Đạo học phương Đông”, Dân tộc, thì sẽ rất nguy hại cho đất nước, nhất là khi người dân không còn biết tin Nhân quả. Bài học về một “giáo sư Phật học”, “nhà sư chém gió” Thích Minh Tâm với tôn chỉ “Chấn hưng nước Việt” vẫn còn đó. Chỉ mất khoảng 6 tháng “tu tập”, Nguyễn Thiếu Văn đã “biến hóa” thành “Thượng tọa Tiến sĩ Thích Minh Tâm”, rồi lọt vào làm chủ tọa điều khiển trong một hội nghị quốc tế về Phật học tại Việt Nam.
Xin hãy cảnh giác khi sử dụng lý trí và niềm tin của mình. Bởi bất cứ khi chọn lựa một điều gì, chúng ta cũng phải kiểm tra nó kỹ càng. Với một điều quan trọng như thực hành giáo lý đạo Phật, chúng ta càng phải xem xét cho cẩn thận, trước khi tìm đến một vị thầy. Xã hội đang tràn lan và gần như mất kiểm soát đối với những thứ giả giá trị, đặc biệt khi chúng biết làm giả như thật, từ đó chống phá các tôn giáo chân chính để trục lợi cho riêng mình.
Duy Tuệ cũng chỉ là một dạng trùng biến hình, nhưng chúng ta không thể không nói đến những người quản lý vô trách nhiệm, tiếp tay cho ông ta để làm hại đến thanh danh của Phật pháp. Điều này còn nguy hiểm hơn là phê phán một Giáo hội, vì ra sức xuyên tạc Phật giáo từ bên trong những giáo lý căn bản như Nhân quả, Nghiệp báo, Bát chánh, Tứ đế… thì sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực đến đời sống con người, nhất là khi chủ nghĩa thực dụng, tôn sùng vật chất lên ngôi.
Nếu đây là một âm mưu trá hình, chống phá Phật giáo bằng các phương tiện thông tin chính thống như đài phát thanh, đài truyền hình quốc gia, nhà xuất bản uy tín thì sẽ vô cùng nguy nan cho Phật giáo Việt Nam. Những phát biểu xuyên tạc của Duy Tuệ xúc phạm nghiêm trọng Phật pháp, tạo ra những vết thương tinh thần khó lành cho những người tìm đến giáo lý đích thực, lừa gạt những người sơ cơ đang có cảm tình tìm đến với đạo Phật. Để mọi người không tiếp tục bị lừa gạt, mong Giáo hội Phật giáo Việt Nam có tiếng nói trước dư luận về hiện tượng này.
Ông Duy Tuệ tự xưng là “đạo sư” trái với tinh thần của đạo Phật, dùng tà thuyết để phỉ báng giáo lý đạo Phật. Nhưng với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn với Phật giáo, với Tăng sĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ngoại trừ những Tăng Ni, Phật tử nằm trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, khi chưa được phép, không ai có quyền nhân danh các tổ chức núp dưới danh xưng “Phật giáo Việt Nam” hay “Phật học Việt Nam” để hoạt động. Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam, không phù hợp để tồn tại một khi nó xuất hiện để nhằm mục đích đánh phá Phật giáo. Đặc biệt, Giáo hội không thể tiếp tục để những con người hủy báng Chánh pháp như vậy được phép tiếp cận hình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông, một đấng anh minh của dân tộc, sau khi rời bỏ ngôi vua, xuất gia và đi khắp hang cùng ngõ hẻm để khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, xiển dương Chánh pháp.
Các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, xuất bản, truyền thanh, truyền hình cần phải rõ ràng và minh bạch về vấn đề này. Bởi nếu thuyết giảng, truyền bá những nội dung trái với đạo Phật, công khai đánh phá Phật giáo, thì phải chăng Duy Tuệ đang muốn xây dựng một tổ chức “Giáo hội” trá hình? Thật ngược ngạo, khi ông Duy Tuệ hủy báng Chánh pháp và không có liên hệ gì với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhưng tại sao có thể đại diện liên lạc với các tổ chức Phật giáo quốc tế để trao tặng những biểu tượng của Phật giáo Việt Nam?
Các nhà xuất bản cho in những sách chống phá Phật giáo của “đạo sư” Duy Tuệ không biết có ý định gì? Điều đáng nói, việc quản lý các ấn phẩm Phật giáo không nằm trong tay Giáo hội, mà ở những người không có đủ kiến thức chuyên môn về Phật giáo, nên những sách chống phá Phật giáo một cách công khai của Duy Tuệ mới lọt ra thị trường. Ngạc nhiên hơn, Duy Tuệ còn có cả một chương trình phổ biến “Thiền Minh triết” trên sóng phát thanh quốc gia.​
Cá nhân ông Duy Tuệ có thể tự do giảng đạo, truyền bá một pháp môn gọi là “Thiền Minh triết”, vậy ông ta thuộc tổ chức Giáo hội nào, ai cho phép thành lập? Phải chăng ai cũng có quyền tự lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn và tự do truyền giảng dưới danh nghĩa tôn giáo khi chính thức được một số cơ quan thông tin uy tín “lobby” cho? Rõ ràng điều này hoàn toàn trái với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ.
Người Việt có câu “Cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra”. Giá trị giả mãi mãi vẫn chỉ là giá trị giả. Quả báo nhãn tiền mà “Vô thượng sư” Thanh Hải đã gặp phải càng củng cố cho mọi người thấy một hoạt cảnh tương tự sẽ diễn ra cho “đạo sư” Duy Tuệ. Mọi người vẫn hy vọng đó chỉ là một mánh khóe để trục lợi cá nhân của Duy Tuệ, không phải là chủ trương từ những người có trách nhiệm trong quản lý tôn giáo.

Thái NamThắng
 

lele

Trưởng Ban Tin Tức
Staff member
Tham gia
19 Thg 10 2006
Bài viết
1,366
Điểm tương tác
70
Điểm
48
Duy Tuệ: Mượn đạo lập đời...

Vấn đề Duy Tuệ đã trở nên quá rõ ràng, sau một loạt bài viết của nhiều tác giả, đặc biệt là bài viết có tính chất tổng kết và đề xuất của tác giả Thái Nam Thắng đăng trên báo Giác Ngộ ấn bản giấy số 632, nhan đề “Cái kim trong bọc giẻ lâu ngày cũng lòi ra"

Tuy nhiên, sách của Duy Tuệ có nội dung phỉ báng Phật giáo, lăng mạ Tam bảo vẫn được trưng bày hàng hàng lớp lớp trên các kệ sách ở các nhà sách lớn TP.HCM. Nghe đâu, Công ty Minh Triết còn dự tính mở một đợt quảng bá cho loại sách vừa “thiền”, vừa động loạn đạp đổ truyền thống này tại Hội sách, sự kiện quảng bá văn hóa quan trọng ở TP.HCM, dịp để các công ty văn hóa giáo dục, các nhà xuất bản tiếp cận với bạn đọc.

Qua các bài viết ý kiến trên các phương tiện truyền thông khác nhau, chúng ta cũng thấy còn có nhiều nhận định đánh giá khác nhau về Duy Tuệ qua những tác phẩm của ông. Đầu mút của một phía vẫn coi Duy Tuệ là người có tu, có ngộ, nhưng tu sai, nên lạc lối, tương tự Osho, Thanh Hải. Đầu mút phía ngược lại coi Duy Tuệ không khác gì một kẻ lưu manh, một tác giả mang tính côn đồ, vung tán tàn chửi Phật, phá đạo. Còn ở giữa là một số nhận định khác, thí dụ, coi đó là một kiểu cải đạo tinh vi từ một tôn giáo độc thần nào đó…
Trên tinh thần là người Phật tử, chúng tôi tán thành với việc trước hết, khi chưa đi đến một kết luận thống nhất, thì hãy nghĩ tốt cho người. Vì vậy, nhận định tác giả Duy Tuệ là một người tu sai cũng là điều đáng quan tâm.
Nhưng là Phật tử, theo cách tư duy của Phật giáo, chúng ta cần nhìn vấn đề một cách “thắng tri”, “tuệ tri”, mà trước hết là cần quán sát toàn diện sự việc, thấy được tất cả các khả năng từ tất cả những nguyên nhân có thể.

Vì vậy, dưới đây, chúng tôi xin tiếp tục tìm hiểu Duy Tuệ theo nhận định đây là một người mượn đạo lập đời, thu hút, tập hợp, lôi kéo quần chúng bằng cách “đốt đền”, tạo phản, động loạn, “nã pháo” vào truyền thống, kiểu Hồng vệ binh<SUP> (1)</SUP>.

Nếu Duy Tuệ chỉ là một kẻ lưu manh tín ngưỡng, một kiểu chửi thần báng thánh để lập bàn thờ cho mình, hỗn xược, xuẩn động, liều lĩnh, kích thích thần kinh, thì suy cho cùng cũng chưa là nguy hiểm. Vì một tác giả như vậy sẽ sớm bị công chúng nhận mặt, xa lánh, khinh miệt, vì bản chất của nó.

Nhưng nếu tác giả Duy Tuệ là người đóng một màn kịch theo đạo Phật, bằng hình tướng Tăng sĩ Phật giáo, bằng đoạn đường đầu tạm nói chuyện tu hành, rồi sau đó, tự “khai mở”, “tỉnh ngộ”, tạo phản, động loạn để thu hút quần chúng cực đoan về với tổ chức của mình. Để sau đó, làm cái kiểu xưng là hậu duệ của nhà Đường (“Tân Đường triều”) như giáo chủ của Pháp luân công, mơ tưởng tới ngôi hoàng đế mới, hay trở thành nhà lãnh đạo tâm linh thế giới can thiệp vào chính sự từ Trung Đông đến Nam Mỹ, kéo cờ logo Supreme Master Ching Hai như một kiểu quốc kỳ của một vương quốc được “cõi trên” gầy dựng, thì điều này mới thực đáng ngại.

Như nội dung bài viết “Cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra”, thì con đường ông Duy Tuệ đang theo là “lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn”. Thực vậy, đại gia đình Minh Triết là một kiểu Giáo hội trá hình, một tổ chức tập hợp tín đồ tôn giáo mới. Ông Duy Tuệ đã đi được một phần trên con đường mượn đạo lập đời.

Ông cần phải mặc áo Phật giáo để đến gần Tăng Ni, Phật tử, áo vàng, áo nâu, rồi “tự chế” áo đỏ theo kiểu na ná thầy Tàu. Đây không chỉ là một kiểu “lập lờ đánh lận”, mà còn là một bước cần thiết cho việc tạo phản, một cách tập hợp quần chúng theo kiểu Đại Cách mạng Văn hóa, kích thích thần kinh đặc biệt giới trẻ. Vì có là một “đạo sư” Phật giáo, một nhà tu Phật, một học giả tu Phật, thì sau đó mới diễn tiến mà phản tỉnh tạo phản, động loạn được. Người chính từ trong đạo Phật ra mà đả kích đạo Phật thì mới tác dụng.

Để sớm chói sáng, sớm trở thành sao, thì cần scandal. Đó là lẽ bình thường. Vì vậy, người làm theo cách này cần một đối tượng để tạo phản, để đả kích một cách cuồng nộ, kích thích. Đối tượng đó là Đức Phật, là Tam bảo, là Phật giáo. Thế là “scandal”, có đại nhảy vọt, có động loạn thu hút một số người hiếu kỳ bu lại: Lạ quá! Mới quá! Độc đáo quá! Xì-tin quá! (tức có phong cách riêng). Nói như một bạn đọc, nó cùng làm như ca sĩ khoe hàng, tự tử vì tình, hay tung những lời phát biểu giựt gân.

Chói sáng, thu hút, leo lên ngôi giáo chủ, có Giáo hội rồi, thì sau đó sẽ là gì? Lý Hồng Chí (Pháp luân công) hay Thanh Hải. Ông Duy Tuệ đang tính đến một kênh TV riêng, nhưng hiện giờ chỉ mới đủ khả năng phát qua mạng. Nếu dưới trướng có được một số tín đồ đông đảo trong và ngoài nước, quyên góp được một ngân quỹ dồi dào, thì khắc sẽ có Tân Đường triều điện thị (Đài Truyền hình của giáo phái Pháp luân công) hay Supreme Master TV mới. Một người lập ngôn theo cách “thuyết pháp” “nã pháo” (từ Hồng vệ binh trong Đại Cách mạng Văn hóa thường dùng), chắc chắn không thể tĩnh lặng để thiền. Thiền Minh triết chẳng qua là một thứ “xì-cọt” mà những thanh niên bốc đồng nốc vào phê quên mình đi, mà bước vào cuộc đua xe kích thích bán mạng.

Vì vậy, bên cạnh việc hình dung Duy Tuệ như là một ông đạo tu sai đường, chúng ta cũng không thể bỏ qua việc hình dung như là một người có mưu tính đường dài, mà tu hành chỉ là màn mở đầu cho thắt nút tạo phản của màn kịch dựng lên từ giấc mơ siêu quyền lực, của một người bước lên vũ đài bằng lãnh vực tâm linh.

Nghe các bài nói của Duy Tuệ trên trang web của ông ta mà chúng tôi đã nhắc đến trong bài viết trước, chúng ta sẽ thấy cái phong cách Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên (những người lãnh đạo Đại Cách mạng Văn hóa Trung Quốc) rất rõ. Nói gì, thì rồi ông Duy Tuệ cũng quay về công kích đạo Phật, Đức Phật, Tam bảo. Vì cũng như Trương Xuân Kiều hay Diêu Văn Nguyên, Duy Tuệ cần phải có đối tượng để “phê đấu”, để “nã pháo”, để “đạp đổ”, để “đập tan” có như thế ngôi mới được lập, mới tập hợp về được người mang não trạng “tạo phản”, nắm lấy họ, để ném vào những bước phiêu lưu “lập đời” tiếp theo.
Minh Thạnh
(1)Từ “nã pháo” là từ thường được dùng trong Đại Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, là đả kích cực điểm, mãnh liệt vào một đối tượng nào đó, trong mọi hoàn cảnh có thể, và thường là để mở đầu cho những hành vi bạo động tiếp theo. Cái cách đả kích của Duy Tuệ vào Phật giáo cùng một dạng như “nã pháo” của Hồng vệ binh, chỉ có khác là ông ta chưa kích động được việc đập tượng Phật, mà ông ta gọi là những cục xi-măng dùng để tu tiền, như trong một bài nói.
 
Tham gia
12 Thg 3 2012
Bài viết
293
Điểm tương tác
102
Điểm
43
Kính chào Quý Thầy, Quý đạo hữu!
CSSQ có ý kiến là ai có khả năng hay quen biết ai có khả năng tin tặc ( cái này gọi là chánh tin hay tin chánh thì mới đúng )! thì vô xem mấy cái trang veb của Ổng xem thế nào!
 

lele

Trưởng Ban Tin Tức
Staff member
Tham gia
19 Thg 10 2006
Bài viết
1,366
Điểm tương tác
70
Điểm
48
Cần “vắc-xin” để nâng đề kháng

Thiết nghĩ, những vụ như ông Duy Tuệ, Thanh Hải… và cả những đạo cô - cậu mọc lên, ít nhiều đã lôi cuốn người dân và cả những Phật-tử-đã-quy-y (phát tâm nhưng chưa hiểu đạo, thấm đạo), vô tình bị dẫn tới mê tín, tà kiến…

Điều đó cho thấy “thế lực đen” ấy đã nắm được điểm yếu của Phật tử và quần chúng nhân dân vốn thích những điều kỳ bí, đồng bóng một chút; đồng thời đối tượng cũng thấy người dân, Phật tử có một niềm tin đơn giản nơi Đức Phật. Khi chưa có nhận thức căn bản về Phật pháp thì rất khó để có thể phân biệt được đâu là lời Phật, đâu là lời na ná giáo lý Phật giáo, dễ dàng bối rối giữa “ảo thuật” ngôn từ “tâm linh”, “minh triết”...
Khi chưa có nhận thức về Phật pháp thì Phật tử sẽ tự bó mình thụ động, ai nói gì cũng dễ nghe, tin, làm theo mà không cần tư duy, suy nghiệm nên dễ dàng “gió chiều nào theo chiều ấy”, thấy ai na ná giống thầy tu là nghĩ đó là tu sĩ Phật giáo (như ngoại hình ông Duy Tuệ chẳng hạn). Và nghe đến Thiền là cứ nghĩ đó là Phật giáo, nghe danh từ Phật-mẫu thì nghĩ đó là đạo Phật… thì dễ dàng bị những kẻ có ác tâm muốn quy tụ, lôi kéo quần chúng lừa phỉnh, dẫn dụ.
Từ những góc nhìn trên, tôi nghĩ rằng trước sự phức tạp của hiện tượng cải đạo, lạm dụng Phật giáo để tạo ra sự hiểu lầm hoặc kiếm lợi, tạo nên những “thần tượng” mang tính quyền lực như một bậc “giáo chủ” thì nhiệm vụ hoằng pháp của quý thầy giảng sư càng phải được chú trọng, phát huy. Đồng thời, thiết nghĩ Ban Hoằng pháp T.Ư cần nhất thống cho được nội dung sườn cần truyền thông trước khi vào đề tài giảng của buổi thuyết pháp là gì (trong từng thời điểm thời sự), nhất là trong tình hình phức tạp này thì mỗi khi tới đạo tràng giảng sư có thể nhắc về “Duy Tuệ” hoặc “thiền minh triết”, về “Thanh Hải” là những cái tên mang tính chất phá hoại Phật giáo.
Hiện nay, Phật giáo khắp nơi có rất nhiều đạo tràng và Phật tử tu tập cũng rất đông, thì vai trò truyền thông của quý thầy giảng sư trong điều kiện như vậy là rất hiệu quả”. Chỉ cần quý thầy thống nhất nhắc Phật tử cảnh giác với những đối tượng lạm dụng Phật giáo cùng những dấu hiệu nhận biết của đối tượng ấy thì Phật tử sẽ nắm được. Đó như một thứ “vắc-xin” cơ bản nâng sức đề kháng cho Phật tử, để họ có thể miễn nhiễm trước những hình ảnh, luận điệu na ná, giả danh Phật giáo từ khắp nơi (sách báo, tổ chức sự kiện, tuyên truyền…) như ông Duy Tuệ đã đang làm!
Thị Hiền
 

lele

Trưởng Ban Tin Tức
Staff member
Tham gia
19 Thg 10 2006
Bài viết
1,366
Điểm tương tác
70
Điểm
48
Từ biến thái đến ...bệnh thái


Lời người viết: Gần đây dư luận trong và ngoài Giáo hội những ý kiến về hiện tượng “đạo sư Duy Tuệ” với những tuyên bố và quan điểm báng bổ giáo lý các tôn giáo, trong đó có đạo Phật. Để rõ hiện tượng biến thái này, người viết thấy cần góp một tiếng nói khiêm tốn qua hiện tượng mang sắc màu “bệnh thái”, cụ thể là Duy Tuệ với thiền Minh triết.


Từ biến thái Phật pháp ở trời Âu...
Nếu như trong Tây du ký có một hồi xuất hiện đến hai Đường Tăng gây bối rối cho cả một kẻ nhiều tài phép như Tôn Ngộ Không hay có lúc bản thân bác Tôn nhà ta cũng hoang mang vì “một gã Giả Hành Tôn tự xưng mình mới là Tề Thiên đích thực”. Chỉ bằng Phật nhãn, chân lý mới làm sáng tỏ.

Thực tế cũng cũng có nhiều trường hợp làm không ít người nhầm lẫn. Như Bhagwan Rajneesh, người thường xưng danh Osho, thường tự cho mình là Di Lặc, hay được tín đồ của ông ta ca ngợi như thế. Ron Hubbard, người sáng lập Scientology, một trong những phong trào có ảnh hưởng lớn xã hội Âu Mỹ với nhiều tín đồ là các nhân vật nổi tiếng trong làng giải trí như tài tử Tom Cruise…, Hubbard muốn tạo ra một “tôn giáo” mới thoạt nhìn thì giống như sự kết hợp giữa tổ chức của nhà thờ Thiên Chúa với công ty đa quốc gia nhưng về ý thức hệ lại dựa vào Phật pháp, lại mang tính chất huyền nhiệm và sùng bái vật thể… Hay gần đây có Eckhart Tolle, một nhà thuyết giảng tâm linh gốc Đức, đang sống ở Canada, tác giả của “The Power of Now”…
Có thể xem đó là những biến thái tư duy bằng việc dựa vào Phật pháp để đưa ra những diễn giải mới về Thượng đế, tự nhiên, thực tại nhưng không xuyên tạc, đạp đổ các nền tảng tâm linh khác.
... đến bệnh thái “đạo sư” ở Việt Nam
Nhưng ở Việt Nam, chúng ta đang gặp một vài trường hợp “bệnh thái” - sử dụng hay vận dụng Phật pháp và Phật giáo vì những động cơ nào đó, cộng với sự ngông cuồng vọng ngữ nhưng lại được tạo điều kiện truyền bá bí mật hay công khai… Đó là Thanh Hải “Vô thượng sư”, và nay lại thêm một “đạo sư” Duy Tuệ.
Có những người tự xưng là “đạo sư” (tiếng Anh là “Master”, hay Guru theo tiếng Ấn), truyền giảng giáo lý, học thuyết thoạt nghe tưởng như giáo lý nhà Phật vì ngôn ngữ giống nhau: cũng Vô thường, Nghiệp báo, Bát Chánh đạo, Tứ vô lượng tâm… nhưng nghe kỹ, hiểu sâu, chúng ta sẽ thấy đó chỉ là một thứ “giả kim”. Nếu ở trời Âu, những Osho hay Hubbard còn có chỗ đáng châm chước vì ít ra họ không quá ngông cuồng thì tại Việt Nam, các ông bà “ Đạo” lại tự tôn vinh mình, như kiểu Duy Tuệ:
“Theo truyền thuyết trong kinh sách, khi đạt được trạng thái an lạc nội tâm thì Đức Phật tuyên bố đại ý rằng: Ta vừa trải nghiệm một trạng thái rất đặc biệt, một trạng thái hoàn toàn không thấy khổ đau nữa. Giờ đây ta đã hiểu rõ nguyên nhân của khổ đau nữa. Giờ đây ta đã hiểu rõ nguyên nhân của khổ đau là gì, ta tuyên bố “Ta đã thành Phật”…
“Do ân phước tôi cũng tự nhiên rơi vào trạng thái đặc biệt ấy, và tôi khẳng định rằng trạng thái an lạc tuyệt đối có sẵn trong mỗi con người là có thật. Khi vào trạng thái ấy, con người sẽ mở ra một sự thấy hết sức đặc biệt. Và cái thấy xuất hiện đầu tiên là thấy nguyên nhân nào khiến con người không được sung sướng, mãn nguyện với kiếp người của mình” (Duy Tuệ, Ta là ai? (TLA) - trang 28)
Mập mờ ngôn ngữ
Nhưng nếu chỉ rao giảng triết thuyết của mình, phê phán Phật giáo thì mọi người sẽ nghi ngờ động cơ không trong sáng, nên họ mới đưa ra những lời kêu gọi thiêng liêng như ‘bảo vệ môi trường’, kêu gọi ‘tình yêu thương’; phong cho những người tu theo mình là “hiền giả minh triết”, “doanh nhân minh triết”; lập các quỹ từ thiện…, rồi nhân đó rao giảng một mớ tả-pí-lù, một loại lẩu thập cẩm nhặt nhạnh từ giáo lý Phật, Lão, Thượng đế, đồng thời sử dụng ngôn ngữ nhà Phật, cũng cổ xúy ngồi thiền, quán niệm, khai mở ánh sáng, minh triết…
Lập ra “Thiền Minh triết” để mập mờ nghe na ná như Thiền Minh sát (***) - một phương pháp thiền căn bản trong đạo Phật. Đấy là đại vọng ngữ khi họ tự tung hê triết thuyết được “sinh sản vô tính” của mình. Bệnh thái còn nằm ở chỗ những danh xưng “vĩ đại” trong chiếc áo “Nghiên cứu và ứng dụng Phật học Việt Nam” gá vào danh xưng UNESCO Việt Nam.
Phá chấp giả vờ nhằm phủ nhận chân lý
Thủ thuật thông thường là họ tuyên bố nhiều câu mang tính chất phá chấp, nếu không cẩn thận, ta cứ ngỡ đang nghe Tổ Lâm Tế tái sinh hay một thiền sư đạt đạo đang muốn tín đồ đừng chấp vào câu chữ trong kinh, chấp vào nghi lễ tôn giáo, hay đừng “thần phục” các vị Tăng Ni…, phủ nhận giá trị của hành trì hay công phu.
“Nếu đi chùa mà không cải thiện gì thì đừng đi nữa. Nếu niệm Phật mà không giúp ích gì thì đừng niệm nữa” (TLA, trang 35 )
“Quý vị chỉ cần biết hai vị Phật… giữa hai vị Phật, nên chọn Phật Trần Nhân Tông cho gần gũi, Phật Thích Ca là của truyền thuyết, không biết có hay không.(TLA, trang 73)
“Bởi chính các vị Phật, thánh nhân hay bậc thầy đều dạy và trang bị cho đệ tử hay người khác những đức tin tốt đẹp… Như vậy, đức tin được dùng để trấn an sợ hãi, nhút nhát, hèn yếu và sự bình tĩnh, tự tin cho họ. Nghĩ lại mà thấy đau lòng. Cây cối trong rừng chẳng cần đức tin nào mà vẫn sừng sững trước phong ba bão táp, trong khi con người lại cố tìm đức tin gắn vào đầu mà vẫn nhiều tuyệt vọng yếu hèn!”.(TLA, trang 97)
Không có nghiệp chướng gì của đời trước để đời này phải trả, phải chịu cảnh cơ hàn cực khổ, thiếu cơm ăn, áo mặc hay nhà ở. Nhìn theo kiểu phải trả nghiệp là tự đưa mình vào ngõ cụt, xuống vực thẳm hay đường cùng”.(TLA, trang 99)
“Nếu nói Bát Chánh đạo là chìa khóa giải quyết vấn đề khổ đau, thì tại sao mấy ngàn năm qua không phát huy tác dụng? Tám con đường đó là giải quyết tình trạng của cái đầu mỗi người, chứ không phải lên thiên đàng hay về cõi Phật như kinh sách nói, nhưng tại sao không giải quyết được?” (trang 122, sđd, người viết nhấn mạnh).
Ông “đạo sư” này mượn cách đó mê hoặc để chuyển hướng nhận thức quần chúng, muốn quần chúng không cần đến chùa, không cần tập trung tu tập, cứ ở nhà hành trì cầu ông Phật trong lòng, vui và cam chịu hoàn cảnh đang sống dù có nhiều điều không vừa ý, không có ý kiến phản biện lại xã hội, sống như những con cừu ngoan ngoãn…
Ông Duy Tuệ đã viết gì?
“Dân chúng cũng như tất cả Phật tử xưa nay luôn mải mê với vấn đề xuất gia và giải thoát. Thế nên, nhiều người bỏ nhà cửa, bỏ gia đình và bỏ sự nghiệp để đi tu và giải thoát. Qua những trình bày trên của tôi quý vị đã rõ người ta đã nghĩ sai hoàn toàn ý nghĩa của giải thoát. Việc hiểu sai dẫn đến sự tự hành hạ mình hết năm nay đến năm khác và cả cuộc đời, rồi truyền hết đời này đến đời khác. Hiểu không đúng thì làm sao thực hành có hiệu quả được!?” (trang 39, sđd)
Không phải hoàn thành giới luật là không trộm cắp, không tà dâm, không sát sanh, không uống rượu, không nói dối. Đó là vấn đề nhỏ và căn bản đã có từ thời xa xưa. Thời ấy con người mới có mặt trên hành tinh, chưa biết gì nên đưa ra những giới luật đó để dạy họ biết làm người và coi như một thứ pháp luật trong tôn giáo để góp phần bảo vệ trật tự cộng đồng và hạnh phúc cá nhân. Giờ đã qua mấy ngàn năm, con người đã biết giới luật đó rồi, không phải dạy nữa. Giới luật hiện giờ là dạy con người sống phù hợp với cộng đồng, với môi trường và thiên nhiên”. (trang 61, sđd)
“Nếu đã thấy rõ được như vậy, quý vị nghĩ xem có cần tu nữa không? Có cần tập trung hàng trăm hàng ngàn người lại để tu không? Mà liệu tập trung vậy có đạt được kết quả gì không?... Việc tập trung người trong một thời gian để tu chẳng mang lại hiệu quả gì hết. Đó là sự đóng kịch của những người ngu, vô minh. (trang 134, sđd)
“Do vậy hãy làm cho vị Chúa trong mình mạnh lên, ông Phật trong mình sáng lên,…. Ông Phật ấy càng sáng thì càng dễ có nhà, xe, sức khỏe tốt và sẽ không còn cãi nhau”(trang 126, sđd)
“Nhãn thông là khi nhìn thấy bất cứ vấn đề gì, mình luôn cảm thấy dễ chịu, không phát ra ý kiến riêng (?). Ngược lại nhìn gì cũng phát ra nhiều ý kiến, gọi là nhãn “kẹt” (!).
Ý thông là đứng trước mọi vấn đề, luôn cảm thấy bằng lòng, không chê bai. Không phát ra những suy nghĩ đối lập với vấn đề (!). Còn thấy không hài lòng phát ra những nhận xét chê bai, bực bội, tức là ý còn “kẹt”(?)(trang 159, sđd)
Phỉ báng Giáo hội và Tăng Ni
Giả vờ khách quan, ông “đạo sư” tự phong này lấy một vài trường hợp cá biệt (mà tôn giáo nào chẳng có?) về chuyện tranh giành địa vị trong một vài chùa nào đó, cường điệu thành “đa số” hay “không ít” để mô tả Giáo hội như một xã hội suy đồi chạy chức chạy quyền, nặng phần mê tín huyễn hoặc… không có bậc chân tu (!)
“Nhưng với đa số người, khi cạo đầu vào chùa lại chỉ xuất gia bên ngoài chứ không xuất gia bên trong được. Vì sao? Vì họ bắt đầu phát triển chuyện kiếm tiền, đệ tử, Phật tử, tranh giành chức tước, kể cả chức trụ trì. Vật dụng cũng tùy chức phẩm, đại loại như khi ăn thì người trụ trì được sử dụng bát (chén) cao sang hơn. Lúc đầu mang hình tướng xuất gia sau lại ràng buộc và hình thành ý tưởng giai cấp mới trong đầu”. (trang 41, sđd)
“Ngày xưa, trình độ khoa học kém, muốn hiểu, thấy rõ mọi chuyện không phải dễ, nên họ tạo ra những pháp tu làm cho cái đầu thanh tịnh, để suy nghĩ và nhìn thấy rõ ràng. Nhưng giờ đây, tất cả phơi bày ra hết, nhiều khi đầu không cần phải thanh tịnh vẫn thấy rõ. (trang 69, sđd)
Nhưng không ít Phật tử đã tạo sự hư hỏng cho một số nhà sư. Họ cấu kết với Tăng Ni xây dựng chùa lớn, vay mượn để chùa mang nợ. Thông đồng với chùa cho vay nặng lãi, buôn bán kim cương, vàng bạc và đô la trong chùa… Những chuyện như thế vẫn xảy ra, nhưng Phật tử lại lạy lục, tâng bốc, làm đủ thứ chuyện khiến họ hư hỏng”. (trang 81, sđd)
“Cần hiểu rằng sáng kiến của Đức Phật không phải để lập Phật giáo, mà trước nhất là huấn luyện đệ tử. Về sau, con người nghiên cứu và phổ biến nó trở thành tài sản kiến thức của nhân loại. Những Tăng Ni xuất gia, đi theo con đường của Đức Phật mới tạo ra Phật giáo. Cho nên, phải biết rằng việc khai thác trí tuệ Đức Phật hiện nay đang được cả nhân loại tiến hành. Và chắc chắn, người ta khai thác tốt hơn tín đồ tu sĩ Phật giáo. Bởi họ nghiên cứu vô tư, khách quan. Họ có tri thức, chịu khó học, nghiên cứu, áp dụng và quả thực họ đã áp dụng có hiệu quả. Còn người trong đạo Phật là theo chủ quan, đội cái mũ đạo Phật trên đầu và cho thế là xong rồi. Do đó, cần thấy rõ tín đồ Phật giáo vẫn nặng về cảm xúc và tưởng tượng, mê tín nhiều lắm. Có lẽ chỉ có một số tín đồ Phật giáo mới bỏ hàng tỷ đồng Việt Nam ra để thực hành các nghi lễ cúng tế hết sức lãng phí và có vẻ bị tâm thần này!”. (trang 84, sđd)
“Biết là sẽ không làm vừa lòng nhiều nơi hay nhiều chùa nhưng tôi vẫn phải nói rằng việc tổ chức triền miên các khóa học cho Phật tử ở chùa, với năm bảy trăm hay cả ngàn người bỏ bê nhà cửa, khăn gói tới chùa học chắc chắn không hiệu quả gì”. (trang 107, sđd)
Điều đáng tiếc là những cuốn sách chứa các nội dung như vậy lại được một số cơ quan truyền thông như Đài Truyền hình Việt Nam, các tờ báo… ca ngợi nhầm là “minh triết Phật giáo”, “lối sống minh triết đạo Phật”…

Duy Tuệ là ai?
Nếu như Duy Tuệ phân vân tự hỏi: Ta là ai? - như tên của cuốn sách của ông ta, thì chúng ta có thể trả lời cho ông ta bằng dự báo của Đức Phật hơn 2.500 năm trước, rằng chân tướng đích thực của ông ta thuộc hàng những người dẫn đường điên rồ. Đó là những kẻ có kiến thức chắp vá, chưa bao giờ nỗ lực theo chân một vị thầy tâm linh nào và chưa tu tập các pháp môn nào cả. Những cảm xúc bất thiện khiến họ lơ là không sống theo những nguyên tắc đạo đức hướng thiện (giới), không tu tập thiền định (định) và do đó không có cái thấy sáng suốt (tuệ). Hay nói như Patrul Rinpoche, đó là những kẻ “dù chẳng khác gì những kẻ bình thường, sống dựa trên niềm tin ngu dại của người khác, kiêu căng vì lợi lộc, phẩm vật cúng dường và danh tiếng, giống như ếch ngồi đáy giếng. Những kẻ có rất ít hiểu biết, lại bỏ bê những mật nguyện và giới nguyện của họ, trí lực thấp kém mà hành xử lại cao hơn trái đất, họ phá vỡ huyết mạch của lòng từ và bi - Những kẻ điên rồ như vậy chỉ có thể truyền bá cái ác nhiều hơn...” (Patrul Rinpoche - Lời vàng của Thầy tôi )
Rất mong mọi người không ngừng tinh tấn hành trì để có thể thấy đâu là giáo lý chân chính và con đường đích thực phải đi. Đâu là dạng biến thái, bệnh thái để tránh xa
Duy Thức
 

lele

Trưởng Ban Tin Tức
Staff member
Tham gia
19 Thg 10 2006
Bài viết
1,366
Điểm tương tác
70
Điểm
48
Duy Tuệ đẩy mức độ công kích Phật giáo lên rất cao so với Bà Thanh Hải, cực đoan hơn, quá khích hơn. Ông Duy Tuệ không chỉ muốn leo lên mức “minh sư thời đại” như bà Thanh Hải, mà muốn “thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, bôi đen quá khứ, phỉ nhổ truyền thống, phủ nhận Phật giáo cả trong hiện tại lẫn lịch sử.

Với những ý kiến khác nhau trong dư luận đang lên cao trước hiện tượng Duy Tuệ phỉ báng, đả kích Đức Phật, Phật pháp và Tăng Ni, không chỉ bằng những bài nói từ hải ngoại trên trang web của ông ta, mà ngang nhiên bằng sách xuất bản hợp pháp trong nước, có bạn đọc phản hồi trên mạng nêu nghi vấn, phải chăng bản thân tác giả Duy Tuệ có thế lực rất lớn trong nước, hay tác giả này có được một sự bảo trợ mạnh mẽ nào đó, nên đã là một hiện tượng cá biệt?

Bài viết này, từ vấn đề nêu trên, sẽ tìm câu trả lời, mà trước hết qua việc so sánh hiện tượng Duy Tuệ với hiện tượng Thanh Hải (chúng tôi sẽ so sánh chi tiết với hiện tượng Lý Hồng Chí – Pháp Luân công trong một bài khác).

Chúng tôi nghĩ rằng, hiện tượng Duy Tuệ không phải là do cá nhân ai đó bao che, “chống lưng”, mà thực ra, vì ông ta chỉ mới hiện nguyên hình trong thời gian gần đây, và cũng không phải nhiều người biết.

Duy Tuệ là một bản photocopy từ Thanh Hải, nhưng bản photocopy đó chưa chạy hết quy trình sao chụp của nó. Cho nên, mới có sự lầm lẫn, như sách Duy Tuệ được bày bán trong chùa, một số người được đặt “Phật tâm danh” vẫn nghĩ ông ta là một tu sĩ Phật giáo, với cái đầu cạo tóc, mặc áo tràng nâu, áo tràng vàng… không khác gì một vị sư.

Vì thế, thực chất của vấn đề là tác giả Duy Tuệ đã đánh lừa được một số người. Người ủng hộ ông ta và số người theo ông ta nhận Phật Tâm danh, đăng ký tham gia vào tổ chức Đại Gia Minh Triết không ít, do ông ta chưa hiện hẳn nguyên hình.

Riêng tác giả bài viết này, lần đầu tiên thấy hình Duy Tuệ chỉ cách đây 5 tháng, vẫn hỏi với sự kính trọng, rằng “thầy tu ở chùa nào vậy?”. Mua được quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, người viết bài này vẫn còn trân trọng đặt nó vào tủ kinh sách, như những quyển sách Phật giáo đáng quý khác. Cho đến khi đọc hết ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, người viết bài này mới vỡ lẽ ra, và sau đó, mới thấy hết được tầm mức quan trọng của vấn đề.

Chính ra, đưa đến sự kiện Duy Tuệ gây bức xúc dư luận như hiện nay là do đệ tử của Duy Tuệ đã giới thiệu cho chúng tôi quyển““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” và các trang web của tác giả này để chúng tôi nghe các bài nói của ông.

Nếu chỉ biết tác giả Duy Tuệ qua hình ảnh không khác người tu sĩ Phật giáo, hay đọc những quyển sách khác của Duy Tuệ xuất bản vào thời gian trước, chắc hẳn, Duy Tuệ, đối với tôi vẫn là một tác giả khác, hoàn toàn khác, đạo đức và đáng kính.

Quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, chẳng qua, là một vụ “lọt lưới” biên tập. Duy Tuệ còn thản nhiên nói những nội dung trong quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” với Tăng Ni Phật tử (theo như quyển sách, là Tăng Ni Phật tử chùa Phù Châu), thì đối với biên tập viên một nhà xuất bản không phải chuyên về tôn giáo, mọi việc sẽ còn dễ lầm lẫn đến mức nào, nhất là ông ta dàn trải lời lẽ đả kích ra nhiều vị trí tách rời trong quyển sách.

1. Đến đây, chúng ta có thể chỉ ra “định dạng” photocopy đầu tiên của ông Duy Tuệ từ Bà Thanh Hải. Cả hai cùng đả kích Phật giáo, nhưng họ chỉ làm việc đó sau khi thu phục được một số đệ tử nhất định, hầu hết là từ tín đồ Phật giáo hay những người chịu ảnh hưởng Phật giáo. Việc làm đó là để gây lòng tin trước cái đã (kẻ lừa đảo nào cũng thế!). Bà Thanh Hải cũng đả kích đức Phật, đạo Phật, nhưng cũng gài rải rác vào những bài giảng trong các tiết mục “Lời pháp cam lồ” hay “Giữa Vô thượng sư và đệ tử” trên Supreme Master Television, sau khi làm như là bà tán thán Đức Phật, Đạo Phật…

Chẳng hạn, sau khi ca ngợi Đức Phật là bậc toàn trí, đại giác, là vị minh sư, thì lại tiếp ngay rằng bà ấy nói đó là vị minh sư của thời cổ đại, phục vụ chúng sinh thời cổ đại, do đó, ngày nay phải thọ tâm ấn ở minh sư hiện đại (tức Supreme Master). Hay, sau khi bà ta giảng về ngày trước nên niệm Phật, thì dạy tiếp rằng ngày nay thì niệm “Nam mô Thanh Hải Vô thượng sư” đều được “cứu rỗi và giải thoát” (câu này in trang trọng giữa trang 9 quyển sách Bí quyết để được tức khắc khai ngộ hiện đời giải thoát, quyển 1, in ở “Taiwan R.O.C”).

Duy Tuệ cũng làm như thế, rải đều các lời đả kích Đức Phật, Phật giáo, Tăng Ni ra khắp quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, cũng như đối với các bài thuyết giảng phổ biến qua mạng, xuất bản thành dĩa hay USB. Trong sách, thì mỗi đoạn khoảng vài ba câu. Trong bài giảng thì dài hơn, có thể thành một đoạn vài phút, nhưng sau đó lại nói ngay qua chuyện khác.

Các nhà xuất bản ở Việt Nam, khi có sự cố “thủng lưới” biên tập, thường đều cố gắng cho qua, tránh sự phiền phức. Theo chúng tôi, có thể chỉ có vậy, không hẳn Duy Tuệ được sự bảo trợ của ai đó mới xuất bản được sách như thế.

Nếu dùng tiền chạy thuốc được, thì Bà Thanh Hải chắc chắn là có khả năng tài chính hơn ông Duy Tuệ rất nhiều. Thế mà có làm gì được đâu?

2. Bà Thanh Hải tự xưng là “Vô thượng sư”, hay thông dụng hơn, bằng tiếng Anh là “Supreme Master”, là vị giác ngộ thời hiện đại, tự chụp ảnh, quay phim mình làm hoạt động quan hệ công chúng ban đầu từ pháp tướng Ni, sau đó chuyển thành pháp tướng Bồ Tát Quan Thế Âm (song song với việc phô diễn đủ loại thời trang). Bản photocopy, ông Duy Tuệ thì dùng từ “Master”, dịch sang tiếng Việt có phần khiêm tốn hơn: “Đạo sư”. Cũng phải chịu thế, vì ông Duy Tuệ là hậu bối, xưng hiệu sau Bà Thanh Hải có gần 20 năm, việc dùng y khuôn danh xưng cũng kỳ, nên sửa đi chút đỉnh.

3. Như đã nói, cả ông Duy Tuệ và bà Thanh Hải đều khởi sự từ hình tướng tu sĩ Phật giáo. Bà Thanh Hải trong những năm 1980 là một ni cô, ông Duy Tuệ, còn không được biết đã thọ giới hay chưa nhưng vẫn có lúc vẫn đóng bộ hình tướng tăng.

4. Cả hai Supreme Master Ching Hai và Master Duy Tuệ, đều tự tuyên bố tự xưng tụng mình đã được chứng ngộ. Một điều đáng lưu ý, là điều này đều diễn ra sau khi cả hai đến Ấn Độ. Bà Thanh Hải tự quảng bá trên Supreme Master Television là tu ở tận Hy Mã Lạp Sơn. Còn ông Duy Tuệ thì cũng cho biết trong những quyển sách của mình là đã đến các Phật tích ở Ấn Độ tu học.

5. Ông Duy Tuệ cũng học ở bà Thanh Hải cách thu phục quần chúng bằng thiền. Ở Bà Thanh Hải là “Supreme Master Meditation” và thêm vào đó là “Quán âm pháp”. Còn ở ông Duy Tuệ là “Thiền Minh Triết” và “Duy Tuệ học” (sau này có chuyển đổi để khiêm tốn hơn thành “môn học Duy Tuệ”). Cả hai đều muốn tạo ra một thứ I – xùm (“-ism”, nghĩa là chủ nghĩa mới, phương pháp tu tập mới, đương nhiên là để tiến tới tôn giáo mới).

6. Bà Thanh Hải lập tổ chức “The Supreme Master Meditation Association”, từ đó đưa đến bản photocopy “Đại Gia đình Minh Triết” của ông Duy Tuệ, cùng một mô thức. Ở đây, lập tổ chức nhưng ông Duy Tuệ không dùng danh xưng “hiệp hội”, “hội”, hay “tổ chức” (association) vì ắt gặp phải những quy định trong hoạt động hội tại Việt Nam. Nên ông ta lách, thành “Đại gia đình”. Tuy nhiên, về bản chất, mục tiêu của 2 tổ chức đều là như nhau, đều để tập họp tín đồ.

7. Bà Thanh Hải, về cơ bản, không sáng tạo được giáo lý riêng. Cách làm để có nội dung thuyết giảng là lấy một số yếu tố cơ bản trong giáo lý Phật giáo, cố gắng trộn lẫn với một số tín điều tương đối có giá trị nhất định trong các tôn giáo khác, diễn đạt lại bằng các hình thức mới, cố ý “lạ hóa”, dùng các từ ngữ khác, “xào nấu” cho khác đi…, rồi làm như là phát hiện riêng (tất nhiên là không bao giờ cho biết xuất xứ gốc).

Thực chất, đây là một dạng đạo văn, đánh cắp nội dung, đánh cắp ý tưởng. Ông Duy Tuệ cũng làm như thế.

8. Tìm mọi cách, khai thác mọi tình huống để khẳng định mình, để đánh bóng, đề cao tên tuổi mình. Có khi hết sức lộ liễu, trần trụi, thô lỗ, có khi kín đáo, khéo léo… Cả hai Thanh Hải và Duy Tuệ đều rất thường dùng ngôi thứ nhất số ít “tôi” trong các bài nói, với sự xác quyết, nhấn mạnh cao độ về mình. Việc đề cao, sùng bái cá nhân rất rõ, đến mức, nếu mất đi nhân vật chủ chốt, thì các tổ chức và các hoạt động có thể coi như không còn. Cả hai đều như thế ở tổ chức của họ, không thấy nhân vật số 2, người cấp phó, nhân vật truyền thừa hay một tập thể người cấp dưới phụ trách điều hành.

9. Trong cái cách đề cao cá nhân như thế, Bà Thanh Hải rất quan tâm đến việc sử dụng ảnh chụp và video clip để quảng bá hình ảnh của bà. Trong việc làm này, y phục, việc chăm chút trang điểm son phấn, tóc tai, cả đồ trang sức, hậu cảnh và nghệ thuật chụp ảnh, quay phim để làm nổi bật chân dung hết sức được chú ý. Đây cũng là cách làm thường thấy ở các ca sĩ, diễn viên muốn tự lăng xê, làm ngôi sao.

Ông Duy Tuệ cũng bắt chước theo hướng như vậy.

Chúng ta cứ quan tâm quan sát ảnh chụp của ông ta đưa lên mạng internet hay bìa sách thì sẽ thấy rõ điều đó. Nó được xử lý rất cẩn thận, trau tria. Tuy nhiên, ông Duy Tuệ chỉ mới đầu tư nhiều cho hình ảnh, trong khi mảng video clip còn kém xa bà Thanh Hải.

10. Cả 2 đều cố gắng khai các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là internet để triển khai hoạt động. Sách tuy cũng được chú ý, nhưng thường được dùng để thể hiện họ như một tác gia có “trí tuệ”, “uyên bác”. Sách được dùng nhiều trong giai đoạn đầu. Đối với bà Thanh Hải là vào cuối thập niên 1990, còn ông Duy Tuệ thì trong giai đoạn hiện nay.

Nhưng cũng phải thấy rằng việc triển khai “giáo lý”, hoạt động và vận động, thu nhận tín đồ bằng các phương tiện gián tiếp như internet, sách vở, báo chí… là đặc điểm chung của những tôn giáo mới.

11.Nếu Bà Thanh Hải chú trọng quảng bá cho sự “gia trì” của bà đối với những người thu phục, thì ông Duy Tuệ cũng thế, mặc dù cái chất tâm linh ở ông có vẻ ít hơn về mức độ.

Ông Duy Tuệ không bảo những người quy phục niệm ‘Nam mô Đạo sư Duy Tuệ” kiểu “Nam mô Thanh Hải Vô thượng sư” để được gia trì, nhưng ông khuyến khích trưng bày ảnh ông, đeo ảnh nhỏ của ông trên ngực để được may mắn (!?).

12.Bà Thanh Hải và ông Duy Tuệ ít công khai kêu gọi ủng hộ tài chính trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng hoạt động kinh tài rất mạnh với nhiều cơ sở, hình thức kinh doanh. Bà Thanh Hải mở hệ thống nhà hàng chay, chế tác để bán với giá cao những sản phẩm mỹ nghệ, đồ trang sức, y phục mang dấu ấn của bà, tổ chức bán sách, bán dĩa DVD, văn hóa phẩm… . Những tác phẩm được nói là của bà sáng tác gồm cả… tác phẩm hội họa, âm nhạc, điêu khắc!

Ông Duy Tuệ thì chỉ mới tổ chức bán sách, dĩa, có mở rộng sang kinh doanh sản phẩm điện tử như loa, ampli, USB… Giá thành sản phẩm bán ra hầu như là cao, vì kèm thương hiệu liên hệ với thương hiệu “Vô thượng sư”, “đạo sư”, được hiểu ngầm là người mua phải chịu giá cao để ủng hộ, thay vì đóng tiền ủng hộ trực tiếp.

13.Theo cách thiết lập quan hệ trực tiếp giữa người lãnh đạo tôn giáo mới với tín đồ, ở bà Thanh Hải có “truyền tâm ấn”, còn người theo ông Duy Tuệ thì có “Phật tâm danh”. Đây thực sự là hình thức kết nạp thành viên vào tổ chức, nhưng trực tiếp từ người lãnh đạo, không ở cấp cơ sở.

Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu những nét chính về những gì mà ông Duy Tuệ và photocopy lại từ bà Thanh Hải chắc chắn là sẽ chưa đầy đủ. Bạn đọc có thể góp ý kiến bổ sung.
Cái mà ông Duy Tuệ cải biên, là Bà Thanh Hải về cơ bản không nhắm đến mục tiêu hoạt động công khai về mặt tư tưởng ở Việt Nam (dù là có thể có cố gắng nhưng không thành công), còn ông Duy Tuệ thì vẫn cố đeo đuổi mục tiêu trên.

Tại Việt Nam, bà Thanh Hải dùng một hệ thống nhà hàng chay, cơ sở sản xuất thực phẩm chay để ẩn lậu các hoạt động có tính chất tư tưởng, “tâm linh”, còn chính các hoạt động tư tưởng, tâm linh, hiệp hội thì lén lút. Trong khi đó, ông Duy Tuệ thì cố gắng triển khai các hoạt động tư tưởng, “tâm linh” một cách công khai, hợp pháp. Đây là điều mà ông Duy Tuệ thành công hơn so với bà Thanh Hải, dù cả hai đều ở nước ngoài chỉ đạo hoạt động từ xa.

Để làm được điều này ông Duy Tuệ thời kỳ đầu (khoảng 2006) thì viết sách “tâm linh”, trông có vẻ như là sách Phật giáo (chưa đả kích Phật giáo), còn giai đoạn gần đây gia tăng màu sắc sách “kỹ năng sống”, sách “học làm người” cho những tác phẩm phát hành trong nước, để lồng vào đó những đòn đả kích Phật giáo. So với việc Bà Thanh Hải phải đưa lậu sách in từ Đài Loan vào Việt Nam, thì rõ ràng ông Duy Tuệ với sách in trong nước đã vượt bà Thanh Hải ở mặt này.

Tuy nhiên, trong một vài năm, sự hiện diện về hoạt động tư tưởng và “tâm linh” của Bà Thanh Hải không cần đến việc phổ biến công khai sách vở, băng dĩa bài giảng, vì bà có kênh truyền hình Supreme master TV phủ sóng Việt Nam bằng sóng Ku (thu dễ dàng chỉ bằng một anten parabol nhỏ đường kính 0,6 m, thiết bị giá thành rất thấp). Nhưng hiện nay, đài truyền hình này đã ngưng hoạt động, có lẽ vì vấn đề kinh phí. Như thế, không loại trừ việc Bà Thanh Hải trở lại học tập cách làm của ông Duy Tuệ, tìm cách phổ biến sách vở, băng dĩa công khai tại Việt Nam.

Việc cải biên, mà theo chúng tôi là rất nguy hiểm, nằm ở chỗ ông Duy Tuệ đẩy mức độ công kích Phật giáo lên rất cao so với Bà Thanh Hải, cực đoan hơn, quá khích hơn. Ông Duy Tuệ không chỉ muốn leo lên mức “minh sư thời đại” như bà Thanh Hải, mà muốn “thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, bôi đen quá khứ, phỉ nhổ truyền thống, phủ nhận Phật giáo cả trong hiện tại lẫn lịch sử
 

lele

Trưởng Ban Tin Tức
Staff member
Tham gia
19 Thg 10 2006
Bài viết
1,366
Điểm tương tác
70
Điểm
48
PHÂN BIỆT PHẬT ĐẠO và MA ĐẠO
Hồng Vân

Cách đây 2555 năm Đức Phật đã từng biết trước, trong thời mạt pháp sẽ xuất hiện rất nhiều đạo sư, giả làm thiện tri thức đưa chúng sinh lầm đường lạc lối không biết đâu là chánh pháp. “Sau khi tôi diệt độ rồi, trong đời mạt pháp có nhiều bọn ma này trôi nổi trong thế gian, gây nhiều việc tham dâm, lại giả làm người thiện trị thức. Khiến cho các chúng sinh sa vào hầm ái kiến, bỏ mất con đường bồ đề….” (Kinh Thủ Lăng Nghiêm.)

Trong Kinh Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận đức Phật đã nói về sáu hạng người sẽ chui vào Phật đạo, mượn danh Phật đạo để phá hoại chánh pháp. Khi Bồ tát Văn Thù hỏi đức Phật: Sao gọi là Lục sư ngoại đạo ? Đức Phật trả lời : “Khi ta nhập diệt rồi, có nhiều thứ Ma Ba Tuần xen vào trong Pháp ta.
1. Ở chùa, cạo đầu, mặc áo Phật, chung lộn với người đời, ăn thịt uống rượu, nhơ bẩn đất Phật. Đấy là ngoại đạo thứ nhất.
2. Còn có người dắt vợ, đem con vào chùa. Học theo tà thuật, cho là để truyền lại cho đệ tử . Ăn thịt uống rượu. Cũng đi làm chay, tụng kinh cho người. Không phải ông thầy, không phải người tục. Đó là ngoại đạo thứ hai.
3. Còn có những người tà, trên thì không có thầy truyền, dưới thì không có thầy chứng, bị ma quỷ ám ảnh, mê muội. Trí biết bậy bạ, cho là thông minh. Chẳng có công tu, tự xưng thành đạo. Bên ngoài làm giống theo Phật, trong tâm làm việc tà mị, phỉnh gạt người đời, theo vào đường tà, diệt hạt giống Trí của Phật. Đấy là ngoại đạo thứ ba.
4. Lại có người làm theo việc hữu hình, học phép hữu vi, vẽ bùa, thỉnh chú, đuổi Quỷ, sai Thần, phỉnh gạt người đời , ác kiến càng nhiều thì chính kiến của Phật càng bị tiêu diệt. Đây là ngoại đạo thứ tư.
5. Còn có người y theo việc tốt xấu, học theo chiêm quẻ, bàn luận cát hung, xem bói xem tướng, nói trước những điều họa phúc, dối chúng gạt người, tiêu diệt con mắt chính Pháp của Phật. Đây là ngoại đạo thứ năm.
6. Lại có người sửa soạn hình tướng, bụng trống lòng cao. Mình không có tài năng mà lòng tự cao, cho mình là giỏi ; chưa có chứng ngộ, nói là đã chứng, đã ngộ. Học được một hai câu nói của Phật, cho mình đã thấu lý. Chẳng ăn dầu, muối, trà, quả, tương, dấm. Chấp theo tà tướng, dối gạt người không Trí. Chẳng cần xem Kinh, niệm Phật. Chẳng cần làm Phúc tham Thiền. Chẳng cần xuất gia thụ giới. Chẳng cần tìm Thầy học Đạo. Dám đem sắc thân uyển giả này mà ví cùng Phật không khác. Lừa gạt người không biết vào nơi hắc ám. Dứt đoạn căn lành, tiêu diệt hạt giống Trí Tuệ. Hay chấp trược những sự khờ khạo, ngu si. Đây là ngoại đạo thứ sáu.
Sáu hạng ngoại đạo này là Ma Ba Tuần, đến thời mạt Pháp, xen vào giáo Pháp của ta, phá hoại Già Lam, huỷ báng chính Pháp của Phật, chê bai những giáo tướng, nghi thức tụng niệm”.
Qua những điều đức Phật trả lời Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ta thấy đạo sư Duy Tuệ là hạng người ngoại đạo thứ sáu mà đức Phật đã tiên đoán trước. Những kẻ ngoại đạo này sẽ chui vào Phật đạo, khoác áo cà sa, mượn danh Phật để phá hoại Tam bảo. Chánh pháp sẽ bị diệt vong do chính những hạng người này gây ra.
Với những đạo sư có một chút dụng công tu hành thiền định như : Thanh Hải vô thượng sư, OSo, Duy Tuệ…họ có trí biện thông rất phát triển. Sau một thời gian tu tập thiền định, vọng niệm sẽ lắng xuống, hành thức (một trong ngũ ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức) bắt đầu hoạt động mạnh lên. Các thiền gia có khả năng biện luận rất giỏi. Họ nói năng khéo léo hợp lý và loghích rất thuyết phục người nghe. Nhưng trí biện thông đó mới chỉ là trí tuệ thế gian.

Theo HT. Tuyên Hoá thì “Khi trí biện thông phát triển ông nên phân minh cái trí huệ thế gian và trí huệ xuất thế gian. Trí huệ thế gian nghĩa là Thế Trí Biện Thông (một trong tám nạn). Họ khéo léo nói năng, xảo ngôn, biện luận. Điều không có lẽ phải, nhưng họ nói nghe rất là có lẽ phải. Người mê ám nghe họ nói liền cho rằng: “Ồ! Họ nói rất có lý, điều họ nói rất đúng”. Kỳ thật, nếu ông có trí huệ chân chính thì không thể chấp nhận sự ngu lộng, ngụy càn, xảo ngôn của họ, không bị đạo lý ngu mê của họ khiến ông trở nên ngu mê”.

Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật đã nêu ra bốn chủng tử thanh tịnh để phân biệt chánh đạo và tà đạo đó là :Sát, đạo, dâm, vọng. Bất kỳ một vị tăng sĩ, đạo sư nào dù khoác áo cà sa hay không khoác áo cà sa đi thuyết pháp giảng đạo Phật mà phạm phải bốn giới thanh tịnh trên đều không phải là chánh đạo. Đây chính là kính chiếu yêu phân biệt Phật và ma là cơ sở mà những đệ tử Phật cần phải thông rõ để tránh lạc lối.
Để bạn đọc hiểu sâu thêm vì sao những tăng sĩ, đạo sư khi phạm vào bốn giới này đều không thể vượt khỏi tam giới, giải thoát. Tôi xin được trích trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật đã chỉ rõ bốn thứ thanh tịnh như sau :
“- Lòng dâm : A Nan thế nào thu nhiếp cái tâm thì gọi là giới ? Nếu chúng sinh trong lực đạo các thế giới cái tâm không dâm thì không đi theo dòng sinh tử tiếp tục. Ông tu phép tam muội cốt để ra khỏi trần lao, nếu không trừ lòng dâm thì không thể ra khỏi trần lao được. Dầu có nhiều trí thiền định hiện tiền nếu không đoạn lòng dâm cũng chắc lạc vào ma đạo. Hạng trên thành ma vương, hạng giữ thành ma dân, hạng dưới thành ma nữ . Các bọn ma kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tư xưng thành đạo vô thượng. Nếu không đoạn lòng dâm mà tu thiền định thì cũng như nấu cát nấu đá muốn cho thành cơm. Dầu trải qua trăm nghìn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng đá nóng. Vì cớ sao ? Vì đó là giống cát, giống đá không phải là bản nhân của cơm
- Lòng sát : A Nan… lục đạo trong các thế giới, nếu cái tâm không sát thì không theo dòng sinh tử tiếp tục. Ông tu phép tam muội, cốt ra khỏ trần lao nếu không trừ lòng sát thì không thể ra khỏ trần lao đượcDầu có nhiều trì thiền định hiện tiền nếu không đoạn lòng sát thì chắc phải lạc vào thần đạo. Người bậc trên thì thành đại lực quỷ, người bậc giữa thì thành phi hành dạ xoa và các loài quỷ soái, người bậc dưới thì thành địa hành la sát. Các loài quỷ thần kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng thành đạo vô thượng. Sau khi tôi diệt độ rồi, trong đời mạt pháp có nhiều quỷ thần này sôi nổi trong thế gian. Tự nói rằng ăn thịt được đạo bồ đề….Các ông nên biết những người ăn thịt đó dầu cho tâm được khai ngộ giống như Tam ma đề đều là loài la sát, quả báo hết rồi phải chìm đắm trong bể khổ không phải đệ tử Phật. .. Nếu không đoạn lòng sát mà tu thiền định thì cũng ví như có người tự bịt lỗ tai, cả tiếng kêu to mà trong mong người khác không nghe…làm sao đức đại bi lại lấy các máu thịt của các chúng sinh mà làm đồ ăn.
- Lòng thâu đạo : A Nan, lại như chúng sinh lục đạo trong thế giới , tâm không thâu đạo thì không theo dòng sinh tử tiếp tục. Ông tu phép tam muội, cốt ra khỏi trần lao, nếu lòng thâu đạo không trừ thì không thể ra khỏi trần lao được. Dầu cho có nhiều trí thiền định hiện tiền, nếu không đoạn được lòng thâu đạo thì chắc phải lạc vào tà đạo. Hạng trên thì thành tinh linh, hạng giữa thì thành yêu mị, hạng dưới thì thành người tà đạo bị các loài quỷ mị nhập vào ….mỗi người tự xưng đã được đạo pháp thượng nhân lừa gạt kẻ không biết doạ dẫm khiến cho lòng mất chính tìn. Chúng đi qua đến đâu, cửa nhà người ta đều bị hao tổn tan nát. Tôi dạy hàng Tỳ Kheo theo thứ lớp khất thực để bỏ lòng tham, thành đạo Bồ đề. …Nếu không đoạn lòng thâu đạo mà thu thiền định thì cũng như người lấy nước rót vào chén thủng mong cho đầy chén. Dầu trải qua kiếp số như vi trần rốt cuộc cũng không thể đầy được.
- Lòng vọng : An Nan ….nều mắc phải đại vọng ngữ thì Tam ma đề không được thanh tịnh thành giống ma ái kiến và mất giống Như Lai. Tức như chưa được gọi rằng được. Chưa chứng gọi rằng chứng, hoặc để cầu thế gian tôn trọng tột bậc, bảo người khác rằng : Tôi nay đã được qủa Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, đạo A La Hán, thừa Bích Chi Phật hay các quả vị Bồ Tát trong thập địa hay trước thập địa. Tr6ong mong người kia lễ sám, tham sự cúng dường. Những tên nhất điên ca ấy tự tiêu diệt giống Phật. Như người lấy dao chặt cây đa la. Phật Ấn ký người ấy mất hẳn thiện căn không còn chính kiến, chìm đắm trong ba bể khổ, không thành tựu pháp tam muội. Tôi bảo các hàng Bồ Tát và A La Hán ….nhưng rốt ráo không tự bảo rằng tôi thật là Bồ Tát, thật là A La Hán, khinh xuất nói với những người chưa học, làm tiết lậu mật nhân của Phật. Chỉ trừ đến lúc lâm chung hoặc chăng thầm có những lời di chúc. Làm sao lại còn lừa gạt chúng sinh. Thành tội đại vọng ngữ. … Nếu không đoạn trừ lòng đại vọng ngữ thì cũng như khắc phân người làm thành hình cây chiên đàn mà muốn được hương thơm. Thật không có lẽ nào lại như vậy. Nhân đã không thật, quả ắt quanh co, như thế mà cầu đạo Bồ đề của Phật thì cũng như người muốn cắt rốn, làm sao mà thành tựu được.
Như lời tôi đây gọi là lời nói của Phật. Không như lời nói đó tức là lời nói của Ma ba tuần”.

Để hiểu rõ hơn bốn chủng tử thanh tịnh đức Phật đã nói trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chúng ta có thể nghe thêm những bài pháp thoại giảng kinh của các vị tăng sĩ. Trong bốn thứ: Sát, đạo, dâm, vọng có lẽ đạo là khó hiểu nhất. Tôi xin được trình bầy một cách đơn giản nhất. Đạo chính là lòng thâu đạo, mượn danh phật đạo để mang lại lợi ích cho cá nhân, cho gia đình mình. Các vị tăng sĩ, đạo sĩ nếu lấy của cùng dường, ăn của đàn na tín thí mà không tu hành lại gom góp cho bản thân mình, sau khi mất báo thân sẽ sa vào cảnh giới ngạ quỷ.

Đối chiều với bốn thứ thanh tịnh để phân biệt chánh tà chúng ta thấy, các vị đạo sư thường mắc phải 3 giới: dâm, đạo, vọng. Các vị tăng sĩ thường hay mắc phải hai giới: đạo, vọng. Thầy Thích Thông Lạc đã phạm vào lòng vọng, nghĩa là chưa chứng mà tự cho mình là chứng. Mất giống Như Lai lạc vào tà đạo. Qua bốn chủng tử thanh tịnh mà đức Phật đã nêu ra, chúng ta không cần phải đi sâu phân tích đúng sai những thuyết lý của các vị tăng sĩ, đạo sư mà chỉ cần biết vị đó có phạm bốn giới trên hay không là có thể rời khỏi người thầy này để tránh lạc lối trên con đường hướng Phật của mình.
Vì sao bốn chủng tử thanh tịnh và Kinh thủ lăng nghiêm được cho là kính chiếu yêu hay cơ sở để phân biệt chánh đạo tà đạo, HT. Tuyên Hoá đã nói :
“Đây cũng bởi vì Kinh Lăng Nghiêm nói lên sự thật quá rõ ràng. Trong khi ma vương lại không thể giữ được Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối tức bốn lời răn dạy thanh tịnh, cũng không thể tu được Pháp Môn Viên Thông của hai mươi lăm vị Thánh, và càng không dám đọc về cảnh giới của Năm Mươi Loại Ấm Ma. Vì nó sợ bại lộ nguyên hình, khiến cho người ta biết được bộ mặt thật của nó, cho nên nó mới tìm cách hủy diệt Kinh Lăng Nghiêm. Hủy diệt đây không phải là đốt kinh điển, mà là hủy diệt kinh từ trong tâm chúng sanh, khiến cho mọi người mất lòng tin đối với Kinh Lăng Nghiêm”.

Trong Kinh Pháp Diệt Tận đức Phật đã nói rằng: “Tương lai khi đến thời kỳ Mạt Pháp, bộ kinh Lăng Nghiêm sẽ bị hủy diệt trước hết.” Bởi vì Kinh Lăng Nghiêm là đại biểu cho thời đại Chánh Pháp. Nếu không có kinh Lăng Nghiêm, tức là không có Chánh Pháp. Theo HT.Tuyên Hoá : “Hiện nay có rất nhiều sơn yêu thủy quái, chúng chủ trương là Kinh Lăng Nghiêm không phải do Phật nói, và muốn mọi người đừng tin. Nếu không tin Kinh Lăng Nghiêm, vậy bao nhiêu Kinh điển khác đều có thể lấy bút quẹt bỏ hết mà không tin luôn à! Vì sao? Bởi không có căn cứ chăng! Cho nên quý vị có thể thấy rằng tâm địa của ma vương quả thật quá cay độc!

Để đi sâu và làm rõ hơn một vị tăng sĩ hay vị đạo sư giảng đạo có phải là chánh đạo hay không HT. Tuyên Hoá có đưa ra sáu tiêu chuẩn để phân biệt hạng tà tri tà kiến:
1- Trước hết thử xem người nào đó có tâm tranh danh tranh lợi hay không. Dụng công cho danh lợi, lại tham tài tham sắc, tham lam không biết chán.
2- Ðể ý xem họ có tự "đánh bóng" cho họ không? Họ có tự mình xưng tán không? khoa trương mình không?
3- Họ có hạ giá người khác để đề cao thân phận của họ không? Ðối với những hạng này, chẳng cần hỏi cũng biết, nhất định là hạng tà tri tà kiến.
4- Lại xét xem họ có tham cầu gì không? Nói về người xuất gia thì mỗi ngày ăn một bữa, nhưng cũng có người không theo quy điều này, tự động đến tiệm để mua thức ăn. Người đó đương có dục niệm về ăn, vậy dục niệm về sắc chắc cũng không bỏ được. Cứ nghĩ cũng biết, những hành động đó đều là vị kỷ. Nói chung, phàm là vị kỷ tức đã có sự tham cầu.
5- Sau đó thử xem họ có tâm tự tư tự lợi không?
6 - Xem thử họ có thích nói dối không? Nếu có, họ thuộc về hạng tà tri tà kiến, không còn nghi ngờ gì nữa.
Lấy sáu tiêu chuẩn trên để trắc nghiệm có thể biết người nào đó có chánh tri chánh kiến, hay thuộc hạng tà tri tà kiến. Nói tóm lại, nếu hết thảy mọi thứ đều kéo về cho riêng mình, thì đó là hạng tà tri tà kiến. Nếu hết thảy đều vì hạnh phúc của đại chúng thì người đó có chánh tri và chánh kiến.
Trong quyển Thí Luận của ông Trần Do Bân chỉ rõ ba điều một vị thầy giảng đạo phạm phải đều là tà đạo:
- Vị Thầy dùng thần thông và các điều kỳ dị làm "công cụ" để thu hút những chúng sanh có lòng hiếu kỳ; đó là tà.
- Vị Thầy tự ý thêm bớt, sửa đổi các quả vị tu hành trong Phật Giáo và giải thích lệch lạc ý nghĩa của "tín, giải, tu, chứng," còn tự cho mình là giáo chủ; đó là tà.
- Vị Thầy tự lập ra tông phái rồi tự xưng là giáo chủ mà chính mình lại không có căn bản chân thật về đạo lý Phật Giáo; đó là tà.
Trong Kinh luật dị tướng - Dẫn Hải long vương kinh, Đức Phật nói:Có bốn cách kiếm thức ăn khiến cho chúng sanh bị đoạ vào ba đường ác:
-Một là, dùng lưới vây bắt cầm thú, tàn hại muôn loài, sát sinh oan mạng… để kiếm thức ăn.
-Hai là, dùng gậy gộc, đao kiếm, thương trượng, xà mâu, cung tên… bức bách, đâm chém, cướp đoạt tài sản của người khác để kiếm thức ăn.
-Ba là, xan tham, nịnh hót, gây rối loạn, phạm cấm giới, tà kiến, lừa dối… để kiếm thức ăn.
-Bốn là, không phải thầy tự xưng làm thầy, không phải Thế Tôn tự xưng là Thế Tôn, theo tà đạo mà cho mình chính, không phải tịch chí mà tự xưng tịch chí, không thanh tịnh tự xưng thanh tịnh, không có phạm hạnh mà tự xưng phạm hạnh… tự xưng bừa như vậy để cầu mong có được thức ăn.
Bốn cách kiếm thức ăn như vậy khiến cho chúng sanh đoạ lạc vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ta thuyết pháp là để từ diệt bốn cách kiếm thức ăn này, để chúng sanh không vì nuôi dưỡng cái thân này mà tổn hại đến các loài chúng sanh khác. Muốn tự bảo hộ thân mình phải biết bảo hộ thân của người khác, phải cẩn thận giữ gìn chứ có vi phạm.
Trong thời kỳ mạt pháp, khi các vị đạo sư xuất hiện ở khắp nơi, mượn danh Phật pháp để đưa ra những thuyết lý, kiến giải của mình, những đệ tử Phật chúng ta cần có trạch pháp nhãn (con mắt biết chọn lựa Pháp) mới có thể phân biệt được phải hay trái, đúng hay sai và thiện hay ác một cách rõ ràng. Nếu không, chúng ta chẳng khác gì như người mù sờ voi, mò không ra được đạo lý chân chánh.
Vì biết trước trong thời kỳ mạt pháp, sau khi đức Phật diệt độ sẽ có rất nhiều hạng tà đạo chui vào Phật đạo để phá chánh pháp nên đức Phật đã dạy các vị Bồ tát Đại thừa phải đem nguyện lực, tùy chỗ ứng hiện.
Hoặc làm vị Đế vương, hoặc làm vị Tể quan, hoặc làm vị Trưởng giả, đều ở mỗi chỗ làm vị Đàn việt để tiêu trừ tà đạo, ủng hộ chính Pháp, không cho tà ma tự tiện quấy phá, y theo lời Phật dạy. Đây mới là Đệ tử của Phật. Còn như thuận theo tà , là đồng với Ma ba tuần ngoại đạo, huỷ báng Pháp Đại thừa, đọa vào Địa ngục như tên bắn”.
Dù ma đạo trôi nổi ở khắp nơi quẫy nhiễu đại chúng phá chánh pháp. Chúng ta tin rằng từ nay cho đến thời chánh pháp diệt tận còn rất nhiều các vị Bổ tát sẽ ứng hiện ở khắp nơi để gìn giữ chánh đạo diệt trừ ma đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô Thủ Lăng Nghiêm Kinh Phật
 
Bên trên