- Tham gia
- 6/2/07
- Bài viết
- 3,869
- Điểm tương tác
- 920
- Điểm
- 113
* Nhị Nguyên Luận .
Kính các bạn.
Nhân Bạn Đại phản hỏi về Pháp môn Bất Nhị. VQ lập riêng chuyên mục này, để thảo luận với các Bạn.
4/. Bất Nhị là Gì ? Dùng từ - Vô Nhất Bất Nhị hay Bất Nhị là Chuẩn ?
+ Thế nào là Bất Nhị ?
- Bất Nhị là Không Hai.
+ Không hai là 2 cái gì ?
- "2" - là Nhị Nguyên luận. Là một môn triết học.
Có 2 loại Nhị nguyên luận.
1/. Nhị Nguyên Luận của thế gian.
Trong đó họ cho rằng:
a). "Duy Tâm" (duy tâm ở đây khác với duy tâm Phật giáo. Nó đại biểu cho Thượng Đế) là nguyên nhân sanh ra vũ trụ và con người.
b).Cũng có một số người cho rằng "Duy Vật" là nguyên nhân sanh ra vũ trụ và con người.
c). Nhưng cũng có một số người họ dung hòa 2 tư tưởng đó.- Sự dung hòa đó gọi là
"Nhị Nguyên Luận của thế gian"
Như bài viết sau:
Thuyết nhị nguyên, hay nhị nguyên luận, là một học thuyết triết học thừa nhận sự tồn tại độc lập của hai thực thể. Có nhiều dạng nhị nguyên, một trong số đó là thuyết nhị nguyên về triết học xem vật chất và ý thức (hay tinh thần), tạo thành hai nguồn gốc của thế giới. Đây là quan điểm của một số nhà triết học trong việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học: ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào.
Thuyết nhị nguyên được hình thành từ rất sớm ở cả phương Đông lẫn phương Tây, đặc biệt là ở Ấn Độ cổ trung đại. Triết học cổ trung đại Ấn Độ quan tâm giải quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng nội". Các học thuyết triết học này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến nhị nguyên hay duy tâm.
Vào thời kì cận đại ở Tây Âu René Descartes, nhà triết học nổi tiếng người Pháp, đã đứng trên lập trường nhị nguyên luận khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Ông thừa nhận có hai thực thể vật chất và tinh thần tồn tại độc lập với nhau. Ông cố gắng đứng trên cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm để giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tư duy và tồn tại song cuối cùng đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm vì ông thừa nhận còn một thực thể thứ ba đó là Thượng đế quyết định đến vật chất và tinh thần.
Thế kỷ 18-đầu thế kỷ 19, Immanuel Kant, nhà triết học cổ điển người Đức, đã trình bày những quan điểm biện chứng của mình về tự nhiên. Một mặt ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các "vật tự nó" ở bên ngoài con người. Thế giới có thể tác động tới các giác quan của chúng ta, ở quan điểm này Kant là nhà duy vật. Nhưng mặt khác ông lại cho rằng thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại không liên quan gì đến các gọi là "thế giới vật tự nó". Có nghĩa là ông thừa nhận nhận thức của con người chỉ biết được hiện tượng bề ngoài mà không thâm nhập vào bản chất đích thực của sự vật, không phán xét được gì về sự vật như chúng tự tồn tại. Nhận thức của Kant có tính chất duy tâm, ông cũng nói, trong nhận thức cần hạn chế phạm vi của lý tính để dành cho đức tin. Cuối cùng triết học của Kant đã đi đến thuyết bất khả tri .
Những hạn chế
Hạn chế lớn nhất trong các học thuyết nhị nguyên của các nhà triết học là sự không thể khẳng định vật chất có trước hay ý thức có trước, là người đã đứng giữa ranh giới của chủ nghĩa duy vật và duy tâm. Họ muốn dung hoà hai trường phái trên để dẫn đến một trường phái duy nhất đó là cùng tồn tại. Quan điểm của họ đa phần là hoài nghi vì thế mà khi giải quyết tiếp mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học họ đã rơi vào thuyết bất khả tri và dần dần triết học của họ chuyển sang duy tâm...
https://vi.wikipedia.org/wiki/Thuyết_nhị_nguyên
Quan điểm Nhị Nguyên của Phật Giáo thì có hơi khác đi....
Sửa lần cuối: