TAM VÔ LẬU HỌC

Bantoioi

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
16 Thg 3 2020
Bài viết
301
Điểm tương tác
111
Điểm
43
Bản Tâm tức Phật tức chúng sanh !

- Chúng sanh hay Phật thánh,,, cũng an trú Bản Tâm -> sống với niết bàn !
- Người chưa ngộ hay đã ngộ,,, cũng an trú Bản Tâm -> sống với niết bàn !
- Kẻ còn 5 uẩn hay không còn 5 uẩn,,, cũng an trú Bản Tâm -> sống với niết bàn !
- Tất cả Vạn Pháp -> sống với niết bàn !

Lìa tất cả tướng, ý niệm, chỉ còn là thể giác rỗng lặng chiếu soi !

Cung kính.
 

VNBN

Registered
Tham gia
13 Thg 6 2017
Bài viết
69
Điểm tương tác
16
Điểm
8
Khì,,,khì,,,,
Không Rỗng Tuếch đâu, theo mình nó ĐẶC SỆT
Cung kính
Bạn không đọc kỹ rồi, "tự thân chúng nó trống rỗng", còn cái đặc sệt chính là tánh thật của mỗi cá nhân, bất khả thuyết, còn "trống rỗng" thì vốn chẳng có gì để thuyết.
 

VNBN

Registered
Tham gia
13 Thg 6 2017
Bài viết
69
Điểm tương tác
16
Điểm
8
Bản Tâm tức Phật tức chúng sanh !

- Chúng sanh hay Phật thánh,,, cũng an trú Bản Tâm -> sống với niết bàn !
- Người chưa ngộ hay đã ngộ,,, cũng an trú Bản Tâm -> sống với niết bàn !
- Kẻ còn 5 uẩn hay không còn 5 uẩn,,, cũng an trú Bản Tâm -> sống với niết bàn !
- Tất cả Vạn Pháp -> sống với niết bàn !

Lìa tất cả tướng, ý niệm, chỉ còn là thể giác rỗng lặng chiếu soi !

Cung kính.
kkkk, không nên đánh đồng liều lĩnh như vậy.
Ca nhân nào làm được như câu nói: "Lìa tất cả tướng, ý niệm, chỉ còn là thể giác rỗng lặng chiếu soi !" thì cá nhân mới sống với Niết Bàn. Còn chưa làm được thì sống với vọng niệm, đám mây vô minh chưa thật sự tan biến.

Vạn pháp vốn rỗng tếch, làm gì có sự sống huống gì nói sống được với Niết Bàn. Mặc dù bản tâm không bên ngoài các pháp nhưng cũng chẳng có bóng dáng trong các pháp. Vì vậy đừng lấy các pháp tướng mà luận về bản tâm như vậy. Chỉ có thể lấy bản tâm để luận các pháp mà thô, chẳng hạn câu: "Lìa tất cả tướng, ý niệm, chỉ còn là thể giác rỗng lặng chiếu soi !" là đã lý bản tâm luận các pháp, chính là bản tâm mình xưa nay và bây giờ không còn hữu nhân (cá nhân tu hành lìa tất cả tướng) để hiện ra hữu quả nữa nên chiếu soi thuông suốt mười phương thế giới và vạn vật.
 

An Long

Registered
Tham gia
3 Thg 11 2021
Bài viết
175
Điểm tương tác
9
Điểm
18
Địa chỉ
Nam Định .Việt Nam
Bạn không đọc kỹ rồi, "tự thân chúng nó trống rỗng", còn cái đặc sệt chính là tánh thật của mỗi cá nhân, bất khả thuyết, còn "trống rỗng" thì vốn chẳng có gì để thuyết.
Kha...Khà... Bạn NHẦM trạng thái VÔ CỰC của THÁI CỰC ĐỒ rồi. Bây giờ mình cùng các Bạn dùng KIẾN-VĂN-GIÁC-TRI để CẮN .KIẾN....Rồi bật mí! Mình không chỉ nói LÝ THUYẾT SUÔNG ĐÂU,
.........Từ CÁI RỖNG LẶNG...>>> BỖNG SANH>>X V X V X V.......= X V X V...=KHÔNG NHÂN!???? .........
...=TỰ SANH >>>> vậy CÓ THỂ TỰ DIỆT....và NẾU NHƯ THẾ =
PHẬT SANH>PHẬT DIỆT !

xin cùng thảo luận để tới Bờ Kia.
 

Bantoioi

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
16 Thg 3 2020
Bài viết
301
Điểm tương tác
111
Điểm
43
Các bạn,,, nhân đọc đoạn kinh này hay quá, xin trích dẫn ra đây mong cùng đọc...

KINH DUY MA CẬT - PHẨM BẤT KHẢ TƯ NGHÌ

Bấy giờ Xá-lợi-phất thấy trong phòng chẳng có giường ngồi mà nghĩ rằng : Các Bồ-tát và Chúng Đại Đệ-tử sẽ ngồi đâu ?
Duy-ma-cật biết ý liền nói với Xá-lợi-phất rằng : Thế nào, Nhơn-giả vì Pháp đến hay vì giường ngồi mà đến.
Xá-lợi-phất đáp : Tôi vì Pháp đến chớ chẳng vì giường ngồi.

Duy-ma-cật nói : Xá-lợi-phất ! Kẻ cầu Pháp thân mạng còn chẳng tiếc, huống là giường ngồi. Kẻ cầu Pháp chẳng cầu nơi ngũ Uẩn, lục Nhập, thập bát Giới, cũng chẳng cầu nơi Dục-giới, Sắc-giới, Vô-sắc-giới. Xá-lợi-phất ! Kẻ cầu Pháp chẳng chấp cầu Phật, cầu Pháp, cầu Tăng. Kẻ cầu Pháp chẳng cầu nơi Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Tại sao ? Pháp chẳng hý luận, nếu ta nói thấy khổ phải đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo, ấy là hý-luận, chẳng phải cầu Pháp.

Xá-lợi-phất ! Pháp gọi Tịch-diệt, nếu hành nơi sanh diệt là cầu sanh diệt, chẳng phải cầu Pháp. Pháp gọi là Vô-nhiễm, nếu nhiễm nơi pháp cho đến Niết-bàn, ấy là nhiễm đắm, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng chỗ hành, nếu hành nơi pháp, ấy là chỗ hành, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng thủ xả, nếu thủ xả pháp, ấy là thủ xả, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng xứ sở, nếu chấp xứ sở, ấy là chấp xứ sở, chẳng phải cầu Pháp. Pháp gọi Vô-tướng, nếu nhận biết theo tướng, ấy là cầu tướng, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng thể trụ, nếu trụ nơi pháp, ấy là trụ pháp, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng thể Kiến Văn Giác Tri, nếu hành Kiến Văn Giác Tri, ấy là Kiến Văn Giác Tri, chẳng phải cầu Pháp. Pháp gọi Vô-vi, nếu hành hữu vi, chẳng phải cầu Pháp.

Như thế, Xá-lợi-phất ! Kẻ cầu Pháp, đối với tất cả pháp nên Vô-sở-cầu.
+++++
(Hết trích dẫn)
 

An Long

Registered
Tham gia
3 Thg 11 2021
Bài viết
175
Điểm tương tác
9
Điểm
18
Địa chỉ
Nam Định .Việt Nam
Khì...khì.....Xin mọi Người chậm...chậm.... thôi nào
Vấn đề chúng ta đang thảo luận là : cùng các Bạn dùng KIẾN-VĂN-GIÁC-TRI để CẮN .KIẾN...
-Tức là dùng KIẾN-VĂN-GIÁC-TRI ...để giải phẫu (CẮN) các KIẾN NHẬN... XXXVVV
# TOÀN BỘ những THÔNG TIN chúng ta chia sẻ trên (Các nhận thức, kinh điển (dù là TÂM ẤN hay BẤT TƯ NGHÌ,,,gì gì đi nữa) cũng chỉ là :KIẾN -VĂN-GIÁC-TRI...dùng để THAM KHẢO>>giải phẫu>(CẮN} >KIẾN NHẬN +nhũng TRẢI NGHIỆM của TỰ THÂN...thì mới có thể KIẾN được sự BIẾN hóa của nó

Xin cùng thảo luận
 

VNBN

Registered
Tham gia
13 Thg 6 2017
Bài viết
69
Điểm tương tác
16
Điểm
8
Kha...Khà... Bạn NHẦM trạng thái VÔ CỰC của THÁI CỰC ĐỒ rồi. Bây giờ mình cùng các Bạn dùng KIẾN-VĂN-GIÁC-TRI để CẮN .KIẾN....Rồi bật mí! Mình không chỉ nói LÝ THUYẾT SUÔNG ĐÂU,
.........Từ CÁI RỖNG LẶNG...>>> BỖNG SANH>>X V X V X V.......= X V X V...=KHÔNG NHÂN!???? .........
...=TỰ SANH >>>> vậy CÓ THỂ TỰ DIỆT....và NẾU NHƯ THẾ =
PHẬT SANH>PHẬT DIỆT !

xin cùng thảo luận để tới Bờ Kia.
Ô, chưa bàn tới trạng thái vô cực nhé bạn. VNBN nhận thấy cách hành văn của bạn rất khó theo dõi.
Rỗng lặng = đặc sệt xuyên suốt nhé, còn rỗng tếch = không có thật.
Giữa các cái rỗng lặng luôn luôn tồn tại một cái lực hấp dẫn đặc biệt, buộc phải tương tác nhau.
Trạng thái đầu tiên là trạng thái không biết, không thấy, không nghe,... cái gì hết. Tuy không biết không nghe nhưng vẫn tương tác với nhau (ngẫu nhiên là chính vì chưa có chính nhân). Ngoại duyên tác động lâu dần thì hình thành các nội nhân, nội nhân hữu tình đầy đủ thì thức tánh xuất hiện, quá trình nhận thức bắt đầu.


Hàng ngày chúng ta không ngừng học tập pháp Phật (ngoại duyên) là để cũng cố cái nội nhân nơi mình ngày càng lớn mạnh mà sau này đầy đủ thì thành tự giải thoát.
 

An Long

Registered
Tham gia
3 Thg 11 2021
Bài viết
175
Điểm tương tác
9
Điểm
18
Địa chỉ
Nam Định .Việt Nam
Rỗng lặng = đặc sệt xuyên suốt nhé, còn rỗng tếch = không có thật.
Giữa các cái rỗng lặng luôn luôn tồn tại một cái lực hấp dẫn đặc biệt, buộc phải tương tác nhau.
Trạng thái đầu tiên là trạng thái không biết, không thấy, không nghe,... cái gì hết. Tuy không biết không nghe nhưng vẫn tương tác với nhau (ngẫu nhiên là chính vì chưa có chính nhân).
O kê....Khì khì.....Với sự KIẾN biến , trên Bạn và mình có lẽ có KIẾN-VĂN tương đồng.Cám ơn Bạn

Xin cùng thảo luận để Tới Bờ Kia
 

An Long

Registered
Tham gia
3 Thg 11 2021
Bài viết
175
Điểm tương tác
9
Điểm
18
Địa chỉ
Nam Định .Việt Nam
Rỗng lặng = rất rễ bị hiểu là không có sự vận động...mà sự thì = luôn luôn tồn tại một cái lực hấp dẫn đặc biệt, buộc phải tương tác nhau

Kính Cáo
 

Bantoioi

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
16 Thg 3 2020
Bài viết
301
Điểm tương tác
111
Điểm
43
Các bạn,,, nhân đọc đoạn kinh này hay quá, xin trích dẫn ra đây mong cùng đọc...

KINH DUY MA CẬT - PHẨM BẤT KHẢ TƯ NGHÌ

Bấy giờ Xá-lợi-phất thấy trong phòng chẳng có giường ngồi mà nghĩ rằng : Các Bồ-tát và Chúng Đại Đệ-tử sẽ ngồi đâu ?
Duy-ma-cật biết ý liền nói với Xá-lợi-phất rằng : Thế nào, Nhơn-giả vì Pháp đến hay vì giường ngồi mà đến.
Xá-lợi-phất đáp : Tôi vì Pháp đến chớ chẳng vì giường ngồi.

Duy-ma-cật nói : Xá-lợi-phất ! Kẻ cầu Pháp thân mạng còn chẳng tiếc, huống là giường ngồi. Kẻ cầu Pháp chẳng cầu nơi ngũ Uẩn, lục Nhập, thập bát Giới, cũng chẳng cầu nơi Dục-giới, Sắc-giới, Vô-sắc-giới. Xá-lợi-phất ! Kẻ cầu Pháp chẳng chấp cầu Phật, cầu Pháp, cầu Tăng. Kẻ cầu Pháp chẳng cầu nơi Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Tại sao ? Pháp chẳng hý luận, nếu ta nói thấy khổ phải đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo, ấy là hý-luận, chẳng phải cầu Pháp.

Xá-lợi-phất ! Pháp gọi Tịch-diệt, nếu hành nơi sanh diệt là cầu sanh diệt, chẳng phải cầu Pháp. Pháp gọi là Vô-nhiễm, nếu nhiễm nơi pháp cho đến Niết-bàn, ấy là nhiễm đắm, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng chỗ hành, nếu hành nơi pháp, ấy là chỗ hành, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng thủ xả, nếu thủ xả pháp, ấy là thủ xả, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng xứ sở, nếu chấp xứ sở, ấy là chấp xứ sở, chẳng phải cầu Pháp. Pháp gọi Vô-tướng, nếu nhận biết theo tướng, ấy là cầu tướng, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng thể trụ, nếu trụ nơi pháp, ấy là trụ pháp, chẳng phải cầu Pháp. Pháp chẳng thể Kiến Văn Giác Tri, nếu hành Kiến Văn Giác Tri, ấy là Kiến Văn Giác Tri, chẳng phải cầu Pháp. Pháp gọi Vô-vi, nếu hành hữu vi, chẳng phải cầu Pháp.

Như thế, Xá-lợi-phất ! Kẻ cầu Pháp, đối với tất cả pháp nên Vô-sở-cầu.
+++++
(Hết trích dẫn)

KINH DUY MA CẬT - PHẨM QUÁN CHÚNG SINH

Bấy giờ, Văn-thù hỏi Duy-ma-cật rằng: Bồ-tát nên quán chúng sanh như thế nào ?
Duy-ma-cật nói: Ví như nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra. Bồ-tát nên quán chúng sanh như thế. Như người Trí thấy trăng trong nước, thấy hình trong gương, như dương-diệm, như tiếng vang, như mây giữa trời. Cho đến những vật chẳng thể tưởng tượng như: Lông rùa, sừng thỏ, v.v... Bồ-tát nên quán chúng sanh như thế.

Văn-thù nói: Nếu Bồ-tát quán như thế làm sao hành việc Từ ?
Duy-ma-cật nói: Bồ-tát quán như thế rồi tự nghĩ rằng: Ta nên vì chúng sanh thuyết Pháp này mới là Hạnh-từ chơn thật. Hạnh-từ tịch diệt vì vốn 'vô sanh'. Hạnh-từ chẳng nóng nảy vì 'vô phiền não'. Hạnh-từ bình đẳng vì Tam-thế bình đẳng. Hạnh-từ vô tranh vì 'vô sở khởi'. Hạnh-từ bất nhị vì 'trong ngoài bất hợp'. Hạnh-từ chẳng hoại vì 'vốn là không thật'. Hạnh-từ kiên cố vì 'tâm chẳng hoại diệt'. Hạnh-từ trong sạch vì 'Pháp-tánh trong sạch'. Hạnh-từ vô biên vì 'như hư không'. Hạnh-từ A-la-hán vì 'phá kết tặc phiền não'. Hạnh-từ Bồ-tát vì 'cho chúng sanh yên tâm'. Hạnh-từ Như-lai vì 'đắc tướng Như-như'. Hạnh-từ chư Phật vì 'giác ngộ chúng sanh'. Hạnh-từ tự nhiên vì 'vô nhân mà đắc'. Hạnh-từ Bồ-đề vì 'bình đẳng nhất vị'. Hạnh-từ vô đẳng vì 'đoạn dứt ái nhiễm'. Hạnh-từ đại bi vì 'dẫn dắt theo Đại-thừa'. Hạnh-từ chẳng nhàm chán vì 'quán pháp Không - Vô Ngã'. Hạnh-từ pháp thí vì 'chẳng luyến tiếc'. Hạnh-từ trì Giới vì 'độ người phá Giới'. Hạnh-từ nhẫn nhục vì 'hộ cho mình và người'. Hạnh-từ tinh tấn vì 'gánh vác chúng sanh'. Hạnh-từ thiền định vì 'chẳng thọ Thiền-vị'. Hạnh-từ trí huệ vì 'vô sở bất tri'. Hạnh-từ phương tiện vì 'thị hiện tất cả'. Hạnh-từ chẳng ẩn dấu vì 'tâm trong sạch ngay thẳng'. Hạnh-từ thâm tâm vì 'chẳng hành tạp nhiễm'. Hạnh-từ chẳng dối vì 'chẳng hư giả'. Hạnh-từ an lạc vì 'khiến người được an vui của Phật'. Hạnh-từ của Bồ-tát là như thế.

Văn-thù lại hỏi: Thế nào là Bi ?
Ðáp: 'Công đức sở hành của Bồ-tát đều cùng chung với tất cả chúng sanh'.
- Thế nào là Hỷ ? 'Hoan hỷ làm việc chúng sanh mà chẳng hối tiếc'.
- Thế nào là Xả ? 'Dù làm việc phước đức mà chẳng có mong cầu chi cả'.

Văn-thù lại hỏi: Ðối với sanh tử đáng sợ, Bồ-tát nên y nơi đâu ?
Ðáp: 'Nên y nơi sức công đức của Như-lai'.
- Bồ-tát muốn y sức công đức của Như-lai phải trụ nơi nào ? 'Nên trụ nơi độ thoát chúng sanh'.
- Muốn độ thoát chúng sanh phải trừ những gì ? 'Muốn độ thoát chúng sanh, nên trừ phiền não của họ'.
- Muốn trừ phiền não phải hành thế nào ? 'Nên hành nơi Chánh-niệm'.
- Thế nào là hành nơi Chánh-niệm ? 'Nên hành chẳng sanh, chẳng diệt'.
- Pháp nào chẳng sanh, pháp nào chẳng diệt ? 'Bất thiện chẳng sanh, thiện pháp chẳng diệt'.
- Thiện với bất thiện lấy gì làm gốc ? 'Lấy thân làm gốc'.
- Thân lấy gì làm gốc ? 'Lấy tham dục làm gốc'.
- Tham dục lấy gì làm gốc ? 'Lấy hư vọng phân biệt làm gốc'.
- Hư vọng phân biệt lấy gì làm gốc ? 'Lấy điên đảo tưởng làm gốc'.
- Ðiên đảo tưởng lấy gì làm gốc ? 'Lấy Vô-trụ làm gốc'.
- Vô-trụ lấy gì làm gốc ? 'Vô-trụ thì chẳng có gốc'.
Nói đến đây, Duy-ma-cật liền nhấn mạnh rằng: Văn-thù ! Từ gốc Vô-trụ lập tất cả các pháp. Như thế là thật Vô-sở-trụ vậy.

Bấy giờ, trong phòng Duy-ma-cật có một Thiên-nữ thấy các vị Trời người đang nghe thuyết Pháp, liền hiện hình Thiên-nữ rãi hoa trên thân các Bồ-tát và Đại-đệ-tử. Hoa đến thân các Bồ-tát liền rơi xuống đất, đến các Đại-đệ-tử thì dính trên thân chẳng rơi xuống. Tất cả Đệ-tử dùng thần lực phủi hoa cũng chẳng phủi rớt.
Lúc ấy, Thiên-nữ hỏi Xá-lợi-phất rằng: Tại sao phủi hoa ?
Ðáp: Hoa nầy chẳng đúng Pháp nên phủi.
Thiên-nữ nói: Chớ bảo hoa này chẳng đúng Pháp. Tại sao ? Vì hoa này chẳng có phân biệt, tại nhơn-giả tự sanh phân biệt tưởng mà thôi. Người ở nơi Phật-pháp xuất gia, có 'tâm phân biệt' là chẳng đúng Pháp, nếu chẳng phân biệt tức là đúng Pháp. Nay thử xem các vị Bồ-tát chẳng dính hoa là vì đã đoạn diệt phân biệt tưởng vậy. Ví như người đang có khiếp sợ thì phi nhơn mới được dịp mê hoặc. Cũng thế, các vị Đệ-tử vì đang sợ sanh tử thì sắc, thanh, hương, vị, xúc mới được dịp mê hoặc. Kẻ đã lìa được khiếp sợ thì tất cả Ngũ-dục đều chẳng thể mê hoặc. Kẻ kiết-tập (tập-khí trói buộc) chưa sạch, hoa mới dính vào thân. Kẻ kiết-tập đã sạch thì hoa chẳng dính vậy.

Xá-lợi-phất hỏi: Thiên-nữ ở trong phòng này được bao lâu ?
Ðáp: Tôi ở trong phòng này lâu như ông được giải thoát.
- Ở đây lâu chăng ?
- Như ông giải thoát cũng có lâu mau sao ?
Xá-lợi-phất im lặng chẳng đáp.
Thiên-nữ hỏi: Tại sao bậc kỳ cựu đại trí lại nín lặng ?
Ðáp: Sự giải thoát vốn chẳng ngôn thuyết, nên tôi chẳng biết nói gì.
Thiên-nữ nói: Ngôn thuyết văn tự đều là tướng giải thoát. Tại sao ? Vì sự giải thoát chẳng ở trong, ngoài và khoảng giữa. Văn tự cũng như thế. Cho nên, Xá-lợi-phất ! Chẳng có sự lìa văn tự mà thuyết Pháp giải thoát. Tại sao ? Vì tất cả các pháp là tướng giải thoát rồi.
Xá-lợi-phất hỏi: Chẳng cần lìa tham sân si mà được giải thoát ư ?
Ðáp: Phật vì đối với kẻ Tăng-thượng-mạn mà nói lìa tham sân si là giải thoát mà thôi. Nếu kẻ chẳng phải Tăng-thượng-mạn thì Phật nói tánh tham sân si tức là giải thoát vậy.

Xá-lợi-phất nói: Lành thay ! Lành thay ! Nàng đắc được gì, chứng được gì mà biện tài như thế ?
Thiên-nữ đáp: Tôi 'vô đắc vô chứng' nên biện tài như thế. Tại sao ? Vì kẻ có đắc có chứng ở nơi Phật-pháp gọi là Tăng-thượng-mạn.
Xá-lợi-phất hỏi: Nàng ở nơi Tam-thừa có chí cầu gì ?
Ðáp: Dùng pháp Thanh-văn hóa độ chúng sanh thì tôi làm Thanh-văn. Dùng pháp Nhân-duyên hóa độ chúng sanh thì tôi làm Duyên-giác. Dùng pháp Đại-bi hóa độ chúng sanh thì tôi làm Đại-thừa.
Xá-lợi-phất ! Như người vào rừng huỳnh hoa, chỉ ngửi mùi hương huỳnh hoa, chẳng ngửi mùi hương khác. Cũng thế, nếu vào phòng này, chỉ ngửi mùi hương của công đức Phật, chẳng ưa ngửi mùi hương của công đức Nhị-thừa.
Xá-lợi-phất ! Những vị Thích-phạm Tứ-thiên-vương và Thiên-long, Quỷ, Thần, v.v... vào trong phòng này, được nghe Thượng-nhơn giảng thuyết Chánh-pháp, đều ưa mùi hương công đức Phật mà phát tâm Đại-thừa.
Xá-lợi-phất ! Tôi ở phòng này mười hai năm, chưa từng nghe pháp Nhị-thừa, chỉ nghe Phật-pháp đại từ đại bi bất khả tư nghì của Bồ-tát.

Xá-lợi-phất ! Phòng này thường hiện tám thứ Pháp khó đắc, chưa từng có.
Tám thứ ấy là :
1) Trong phòng thường có ánh sáng màu vàng ngày đêm chiếu soi, chẳng nhờ ánh sáng nhật nguyệt.
2) Kẻ vào phòng này chẳng bị các cấu bẩn làm
cho phiền não.
3) Trong phòng này thường có Thích-phạm Tứ-thiên-vương và Bồ-tát ở nơi phương khác đến tụ hợp chẳng gián đoạn.
4) Phòng này thường thuyết sáu Ba-la-mật và Pháp-bất-thối-chuyển.
5) Phòng này thường trỗi âm nhạc bậc nhất của Trời người, vang ra vô lượng Pháp-âm.
6) Phòng này có bốn kho tàng lớn chứa đầy bửu vật, cứu giúp kẻ nghèo, hễ cầu liền được.
7) Phòng này vô lượng chư Phật nơi mười phương như Phật Thích-ca, Phật A-di-đà cho đến Phật Sư-tử-hống, Phật Nhất-thiết-lợi-thành v.v... Khi Thượng-nhơn khởi niệm, liền đền rộng thuyết Pháp-tạng bí mật của chư Phật, thuyết xong trở về.
8) Phòng này tất cả cung điện của chư Thiên và cõi Tịnh-độ của chư Phật đều hiện trong đó.
Xá-lợi-phất ! Phòng này thường hiện tám Pháp như thế. Người thấy việc bất khả tư nghì này, đâu còn ưa pháp Thanh-văn nữa !

Xá-lợi-phất hỏi: Nàng sao chẳng chuyển biến thân nữ đi ?
Thiên-nữ đáp: Tôi từ mười hai năm cầu tướng người nữ trọn bất khả đắc mà chuyển cái gì ? Ví như nhà huyễn thuật hóa ra huyễn nữ. Nếu có người hỏi sao chẳng chuyển biến thân nữ đó đi, vậy người hỏi đó có đúng không ?
Xá-lợi-phất nói: Không ạ ! Huyễn chẳng tướng nhất định, làm sao mà chuyển.
Thiên-nữ nói: Tất cả pháp chẳng có tướng nhất định cũng như thế, sao lại hỏi chẳng chuyển biến thân nữ đi ? !
Tức thì Thiên-nữ dùng sức thần thông biến Xá-lợi-phất thành Thiên-nữ, tự mình hóa thân như Xá-lợi-phất mà hỏi rằng:
- Sao chẳng chuyển biến thân nữ đi ?
Xá-lợi-phất mang tướng thân nữ mà đáp rằng:
- Nay tôi chẳng biết tại sao chuyển biến làm thân nữ ?
Thiên-nữ nói:
- Nếu Xá-lợi-phất chuyển được thân nữ này thì tất cả thân nữ cũng chuyển được. Như Xá-lợi-phất chẳng phải người nữ mà hiện thân nữ, tất cả người nữ cũng như thế, dù hiện thân nữ mà chẳng phải người nữ. Cho nên phật thuyết: Tất cả pháp phi nam, phi nữ.
Tức thì Thiên-nữ thu nhiếp thần lực lại, thân Xá-lợi-phất trở lại như cũ. Thiên-nữ hỏi Xá-lợi-phất rằng:
- Tướng thân nữ của ông nay còn đâu ?
Xá-lợi-phất nói: Tướng thân nữ chẳng còn, chẳng không còn.
Thiên-nữ nói: Tất cả pháp cũng như thế, chẳng còn, chẳng không còn. Sự chẳng còn, chẳng không còn đó là do Phật sở thuyết.

Xá-lợi-phất hỏi Thiên-nữ: Nàng diệt nơi đây, rồi sẽ sanh nơi nào ?
Ðáp: Phật biến hóa sở sanh. Tôi cũng theo đó sanh. Nếu Phật biến hóa sở sanh thì chẳng phải diệt và sanh. Chúng sanh cũng chẳng phải diệt và sanh.
Xá-lợi-phất hỏi: Nàng bao lâu sẽ đắc Vô-thượng Bồ-đề ?
Ðáp: Khi Xá-lợi-phất trở lại phàm phu thì tôi sẽ thành Vô-thượng Bồ-đề.
Xá-lợi-phất nói: Tôi làm phàm phu thì chẳng có chỗ đúng.
- Tôi đắc Vô-thượng Bồ-đề cũng chẳng có chỗ đúng. Tại sao ? Bồ-đề chẳng nơi trụ, nên chẳng có kẻ đắc.
Xá-lợi-phất nói: Nay chư Phật đắc Vô-thượng Bồ-đề, đã đắc, sẽ đắc như Hằng-sa. Những việc này gọi là gì ?
- Ấy là dùng văn tự, số lượng của thế tục mà nói có tam thế, chứ chẳng phải Bồ-đề có quá khứ, hiện tại, vị lai. Xá-lợi-phất ! Ông đắc đạo A-la-hán ư ?
Ðáp: Vì vô-sở-đắc mà đắc.
Thiên-nữ nói: Chư Phật Bồ-tát cũng thế. Vì vô-sở-đắc mà đắc.

Bấy giờ Duy-ma-cật nói với Xá-lợi-phất rằng: Thiên-nữ này đã từng cúng dường chín mươi hai ức chư Phật. Ðã đắc du hý thần thông của Bồ-tát, nguyện lực đầy đủ, đắc Vô-sanh-pháp-nhẫn, trụ nơi chẳng thối chuyển. Vì theo bổn nguyện, nên tùy ý thị hiện để giáo hóa chúng sanh.

(Hết trích dẫn)
 

Bantoioi

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
16 Thg 3 2020
Bài viết
301
Điểm tương tác
111
Điểm
43
PHÁP BẢO ĐÀN KINH - PHẨM PHÓ CHÚC

... Chỉ nên nhận tự bản tâm, thấy tự bản tánh, chẳng động chẳng tịnh, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng lui chẳng tới, chẳng thị chẳng phi, chẳng trụ chẳng đi. Vì sợ các ngươi tâm mê, chẳng hiểu ý ta, nay nhắc lại lần nữa, khiến các ngươi tự thấy tánh. Sau khi ta viên tịch, theo đây tu hành, cũng như ta còn tại thế, nếu trái với lời dạy của ta, dẫu cho ta còn tại thế, cũng đâu có ích lợi gì! Lại thuyết kệ rằng:

Ngột ngột bất tu thiện,
Ðằng đằng bất tạo ác.
Tịch tịch đoạn kiến văn,
Ðãng đãng tâm vô trước.

Dịch nghĩa:

Ngây ngây chẳng tu thiện, (tâm không)
Bừng bừng chẳng tạo ác. (tâm vô tác)
Tịch tịch dứt thấy nghe, (bội trần hiệp giác)
Luôn luôn chẳng chấp trước. (vô niệm)

Sư thuyết kệ xong, ngồi ngay cho đến canh ba, thoạt gọi môn đồ: Ta đi nhé!, liền ngồi yên viên tịch. Ngay lúc ấy có mùi hương lạ thơm khắp núi, mống trắng mọc vòng cầu chấm đất, rừng cây biến thành màu trắng, cầm thú kêu vang thảm thiết...
(Hết trích dẫn)

Cung kính.
 
Bên trên