Quyển 42 trong Bộ Chơn Lý (69 quyển)

nhãn đầu mùa

Registered
Tham gia
10 Thg 11 2013
Bài viết
296
Điểm tương tác
97
Điểm
28
ĐẠI THỪA GIÁO
Muốn biết Đại thừa, ta phải xem xét lại Tiểu thừa ! Khi Phật sanh tiền, Ƣu Ba Ly là ngƣời
thợ cạo; kém học, xuất gia tu theo Phật. Bởi vì kém học nên ông chuyên về Giới luật hơn
hết; Giới Luật đối với ông sẽ là nền tảng của đạo Phật, nƣơng theo nó ngƣời ta trở nên bậc
thánh hiền; bảo thủ Giới Luật, tức là bảo thủ đạo Phật một cách chắc chắn của hạng kém trí,
mặc dầu chƣa thành Phật chớ ngƣời ta cũng giải thoát trong sạch đƣợc. Sau khi Phật nhập
diệt, Ƣu Ba Ly truyền bá Giới Luật, Y Bát, Khất Sĩ xuống miền nam Ấn Độ và lần hồi lâu
sau Giáo Lý ấy tràn xuống đảo Tích lan, Xiêm la, Cao miên, Lào, Miến điện nhƣ ngày hôm
nay.
Giáo lý Y Bát, Khất Sĩ, Giới Luật ngày nay sở dĩ ngƣời ta kêu là Tiểu thừa, là bởi các Sƣ
chuyên học về Tạng Luật sở chất rất hẹp mà chín chắn, các Sƣ không thân cận với kẻ thế,
các Sƣ lo tu độ cho mình đắt quả A La Hán, có đủ lục thông cho xong trƣớc đã rồi sau mới
đến độ chúng sanh đặng; cũng nhƣ khi chúng ta đã ngồi trên tàu ghe, thì mới sẽ cứu vớt
đƣợc ngƣời, chớ lặn hụp y nhƣ họ thì kéo họ sao cho đƣợc.
Bởi thế ấy mới khác hẳn với Đại Thừa.
Giáo Lý Đại Thừa tuy là ở tại xứ Tàu, nhƣng trƣớc hết có ra, là do Đại đức Ca Diếp, đệ tử
lớn của Phật, đƣợc Phật trao truyền Y Bát, thay Phật làm tổ nắm giữ chánh quyền. Đại đức
Ca Diếp trƣớc kia là ngƣời cầm đầu của một phái giáo cƣ gia. Ngài là bậc đại trí tuệ và từ
bi đức hạnh, Ngài giỏi môn luận sáng suốt cao siêu thƣợng trí; cho nên trong hàng đệ tử
đức Phật, Ngài giỏi nhất về bên học chuyên tu về định huệ, thuyết pháp hoằng dƣơng
Chánh giáo nhiều hơn là sự câu chấp Giới Luật, vì đối với bậc đã đắt tứ quả là qua khỏi
Giới Luật rồi vậy.
Giáo lý của Ngài, đi về miền bắc Ấn Độ, về sau truyền sang qua Tây Tạng và xứ Tàu.
Đạo Phật xứ Tàu đƣợc khởi đầu khai hoá, là do đức Bồ Đề Đạt Ma, Tổ Sƣ thứ 28 nơi Ấn
Độ sau Lão Tử và Khổng Tử. Thuở ấy bên Tàu rất tin theo đạo của đức Lão tử, Tiên gia,
Nho giáo thì nắm quyền chánh trị, cho nên nhà quan vua rất gắt gao đối với đạo giáo xứ
ngoài. Cũng vì bảo tồn danh lợi riêng mà nhà cầm quyền NHO GIÁO cấm ngăn ĐẠO
PHẬT, sợ dân chúng tu theo ĐẠO PHẬT mà bỏ ĐẠO NHO, nên mƣợn cớ sợ e Ấn Độ
cƣớp giựt xứ Tàu, mà ngăn cảng Tăng sƣ Ấn Độ và cũng chẳng cho ai theo đạo Phật !
Khiến nên đức Bồ Đề Đạt Ma khi qua xứ Tàu phải chịu 9 năm dòm vách, tức là bị thế
quyền Nho giáo làm vách ngăn cảng không cho mở thông khai đạo.
Nhƣng làm sao mà đƣợc cảng ngăn Chánh Pháp, kẻ trí thức của thần giáo chẳng bao lâu
giác ngộ quy theo dứt bỏ hành vi mê muội; khá học đƣợc trí huệ biết chánh tín đạo lý, lần
hồi sáng tạo Tăng Già chánh giáo ẩn nhẫn hoằng khai. Nhờ vậy mà ai nấy sau nầy đƣợc
năng sanh trí huệ. Đó là những thời kỳ : Bồ Đề Đạt Ma là Pháp chánh giáo mới truyền sang Tàu, kế đến “Thần Quang” Huệ Khả, Tăng Xáng, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng, là
sáu cảnh ngộ trải qua của Đạo Phật ở nơi xứ Tàu, từ sơ khai đến khi thành đạo trải qua
không biết bao nhiêu gây cấn đạo mới hoàn thành, mà là sự hoàn thành dƣới quyền Nho
giáo chánh trị, chỉ đƣợc pháp học về trí huệ hiểu thấy cao siêu chớ Giới Luật, Y Bát, Khất
Sĩ thì vẫn còn đang bị cấm ngăn, các vua quan chƣa cho Tăng sƣ trì Giới, Khất thực du
hành tự do tu tập.
Ấy cũng bởi giáo lý của Phật rất đúng Chơn Lý quý báu cao siêu, nên Nho giáo không thể
cấm cản lòng dân và kẻ trí thức lần hồi ai ai cũng tìm thêm học Phật và nhận Pháp Phật là
cao trên Nho giáo, cũng nhƣ bài vở của lớp nhứt và lớp ba là khác xa nhau vậy. Vì đó mà
Nho giáo chia ra hai phái; phái đạo nho thì Quy y Pháp Phật, còn phái đảng nho thì mƣợn
danh nho mà lo danh lợi, lạm dụng quyền thế áp chế dân tình, họ chẳng bao giờ chịu hiểu
nghe xem Pháp Phật, họ đã không ngăn cấm đƣợc sự học Phật của dân chúng thì họ ngăn
cấm Giới luật tu hành. Họ đành chịu thua nhƣợng cho Pháp Phật là hơn họ vì số đông quần
chúng trƣớc mặt chớ sau lƣng họ vẫn phỉ báng, chê bai, khinh ngạo luôn luôn.
Họ sợ nhất là Giới Luật, Y Bát, Khất Sĩ của nhà Phật, vì Giới Luật ấy rất trọn lành, trong
sạch, tốt đẹp lắm, còn hành vi của họ thì danh lợi, dơ bẩn ác quấy lắm; họ sợ ngƣời Tàu
hay ngƣời Ấn độ mà thật hành Giới Luật là xấu hổ cho họ, họ sẽ bị ngƣời ta chê bai chỉ
trích chỗ lắm lem và không còn ai tín nhiệm mê theo họ nữa.
Vì thế mà các nhà Sƣ ở xứ Tàu từ xƣa đến nay không thể ban hành Giới Luật, Y Bát, Khất
Sĩ giải thoát nhƣ đạo của đức Phật Thích Ca xƣa. Những ai học hiểu đạo lý khá thì vào
rừng tham Thiền nhập Định nên gọi là giáo phái Thiền lâm, Thiền lâm là các Sƣ tham
Thiền ở trong rừng vắng.
Còn những Sƣ già yếu tật bịnh, trẻ nhỏ không vào rừng đặng thì ở nƣơng Chùa làng xóm
thành thị. Chùa thuở xƣa bên Tàu Hồng Lô Tự của quan vua mộ đạo lập ra và kêu gọi; là
nơi chỗ in Kinh dịch sách; nhà thờ, chứ không phải nhƣ Giáo Hội Tăng Già, Đạo Tràng
Tịnh Xá, nhƣ khi xƣa của Phật Tăng bên xứ Ấn độ, cất lợp bằng tranh lá ở vƣờn rừng.
Các Sƣ ở Chùa đƣợc là do bá tánh cung cấp dƣỡng nuôi nên mọi việc cũng phải lo cho bá
tánh ! các Sƣ nhƣ ngƣời thủ tự phải bận rộn việc tông giáo, thờ phƣợng cúng kiến vái
nguyện cho Cƣ sĩ luôn, Cƣ sĩ có việc chi cũng kêu réo hỏi đòi các Sƣ, thế là các Sƣ không
còn trông gì Định Huệ nữa đƣợc và lâu ngày các Sƣ đã thành ra nghề nghiệp sống sanh
nhai thù tạc với cƣ gia bằng danh từ Kinh sách, tƣợng cốt của Phật. Mắc hƣởng cái gia tài
của Phật cho ấy mà khó trông tu học. Cũng vì sự ở Chùa nên hoàn cảnh bắt buộc các Sƣ
phải thu nhận các tín đồ bổn đạo, thân cận với cƣ gia, không còn biết đến lý nghĩa của
Tăng đồ Khất Sĩ nữa.Vậy nên các Sƣ học thì học Phật, mà tu hành theo Nho ! Sự ăn mặc ở bịnh hành vi thảy
theo Nho giáo.
Cũng nhƣ học trò lớp nhất mà làm việc của lớp ba, tức là đã thành ra lớp nhì chính giữa,
Vậy nên Đại Thừa Giáo hôm nay đã là đạo trời trên lớp ngƣời chớ không còn đạo Phật;
nếu các Sƣ không đƣợc chấn chỉnh lại.
Về Đại Thừa Giáo, các Sƣ lại quý thích về sự luân hồi trở lại, mà không cần giữ lục căn
thanh tịnh để chứng quả Niết bàn. Các Sƣ thề độ tận chúng sanh mới thành Phật, phát
nguyện theo nhƣ Bồ Tát Cƣ sĩ tại gia lo làm việc thế; vì lòng thƣơng kẻ chúng sanh thấp
dại mà Cƣ sĩ lại nguyện đời đời kiếp kiếp ở dƣới Đại ngục, để độ chúng sanh lên hết trên
thiên đƣờng chớ chƣa đến Niết bàn đƣợc vì không có ai dắt đầu cho họ. Các Sƣ quên rằng :
Là chúng sanh tấn hoá mãi sanh thêm hoài nên các Sƣ cố chấp bổn nguyện mình lắm, các
Sƣ vui lòng làm ông thầy giáo lớp chót, để dạy số học trò đông nhiều; mà chen lộn choáng
phần phụ tiếp với gia đình và xã hội, tông giáo, đặng chia sớt số tín đồ bổn đạo dạy lớp
nhơn thiên bặt lối Niết Bàn giải thoát của chƣ phật. Vì thế, không ai đắc đạo quả lục thông
cả.
Các Sƣ gọi mình là Đại Thừa Giáo là bởi các các Sƣ cần học mà không cần hạnh, các Sƣ
học vắn tắt về pháp trí huệ của bậc thầy, Bồ Bát, thƣợng trí…và các Sƣ không cần mình
đắc đạo quả trƣớc, các Sƣ không muốn giáo hoá bậc Xuất gia Khất Sĩ Tỳ Kheo lớp trên;
các Sƣ có học hiểu chút đỉnh là vội đi làm thầy giáo dạy lớp dƣới của hạng bậc Cƣ Sĩ số
đông nhiều. Các Sƣ chỉ hiểu rằng : Có bổn đạo tín đồ Quy Y theo đông là đắt đạo quả, đắc
thế quyền danh lợi giống nhƣ Nho giáo xã hội gia đình mà các sƣ quên rằng : Phật Tăng
khi xƣa là không có tín đồ bổn đạo bà con quyến thuộc, nhờ vậy mới trong sạch giải thoát
chứng Niết bàn.
Vì thế mà Đại Thừa Giáo tức là Nho giáo, nhân đạo, trói buộc, sanh tử kêu gọi đời, đã
nhập theo đời vật chất trào lƣu không còn dấu vết Phật Tăng nữa. Các Sƣ lại chìu theo ý
của cƣ gia bổn đạo mà bày ra đủ thứ trống chuông, điệp phái, sớ tấu, lầu kho, hạc ngựa,
tế lễ nhƣ nho đạo quan vua để cho vừa lòng bổn đạo. Các Sƣ cộng sự với cƣ gia làm các
việc phƣớc thiện về phƣớc báo nhơn thiên hữu lậu, không còn một phút định tâm rảnh trí
dạy đạo chƣ Tăng chi cả; các Sƣ cũng sắm lập ra thêm nhƣ kẻ thế; các Sƣ cũng nhƣ những
bậc vua quan, các Sƣ làm vua quan bằng đạo Phật, cũng có chỗ khá hơn bên ngoài xã hội
vì các Sƣ cũng giữ gốc chƣn phƣớc thiện. Vì thế mà các Sƣ đƣợc đắc nhân tâm hơn xã hội
và các tông giáo khác. Các Sƣ cạnh tranh tín đồ tôn giáo một cách ráo riết để cho đạo đông
chùa lớn, đặng cho bớt những sự ly loạn chém giết lẫn nhau. Nhứt là những lúc chiến tranh
tai nạn thì ngƣời ta theo các Sƣ đông lắm, nhờ vậy mà chóng hết giặc nên ngƣời đời cảm
mến mang ơn quí trọng.Đại Thừa Giáo tức là đạo Phật cải cách theo đời chúng sanh, là giáo lý nhơn thiên trong
thời Mạt Pháp của đạo Niết Bàn. Không phải Đại Thừa Giáo làm cho Mạt Pháp Niết bàn,
mà là đến lúc đạo Niết Bàn mạt pháp, căn cơ chúng sanh siểng bạc, nên nhơn duyên bắt
buộc pháp giáo phải cách mạng đạo Phật mà thành ra đạo trời, ngƣời để tế độ chúng sanh
thấp kém, ấy là hoàn cảnh mà giáo pháp phải hạ thấp xuống mới có đƣợc học trò kia vậy.
Nhƣng dầu sao, các Sƣ cũng không quên Đạo lý Luật pháp của Phật. Các Sƣ còn gọi nhau
là Hòa thƣợng, Yết ma, Giáo thọ, Tăng chúng, Tỳ kheo, Sa di, Cƣ sĩ vân vân… mà trái lại
sự thật hành thì chƣa đúng đƣợc chánh nghĩa của từ xƣa Phật dạy.
Thuở xƣa chƣ Tỳ Kheo không có cấp bằng chức phận chi cả; Tỳ Kheo là Khất Sĩ, tất cả
chúng sanh là Khất Sĩ xin học y theo Chơn Lý, tất cả nhƣ nhau bình đẳng chớ không giai
cấp. Có điều là thế gian Cƣ Sĩ chƣa thật hành đúng Chơn Lý đƣợc nên phải khổ sở luân hồi,
Cƣ Sĩ sẽ là Khất Sĩ sau nầy kẻ trƣớc ngƣời sau ai ai cũng là Khất Sĩ, chớ không có cái tên
Cƣ Sĩ tạm. Vậy nên Cƣ Sĩ bƣớc chân vào đạo theo tập sự với một Khất Sĩ Tỳ Kheo kêu gọi
là Sa di; Sa di là lớp tập sự tạm để bƣớc lên Khất Sĩ bình đẳng. Đức Phật dạy : Đối với Sa
di tập sự mới vào đạo phải theo với một Khất Sĩ Tỳ Kheo thiệt thọ. Hãy xem coi vị Khất Sĩ
Tỳ Kheo ấy nhƣ Phật, vị ấy phải thay thế Phật mà dạy đạo luật cho Sa di tập sự, nên Sa di
tập sự kêu gọi vị Tỳ Kheo Khất Sĩ ấy là bậc bề trên nhƣ bậc bề trên Hòa thƣợng. Hòa
thƣợng là tiếng của Sa di tập sự xƣng tặng ông thầy tạm của mình, chớ không phải là Hòa
thƣợng của tất cả hay chức phận.
Trong đạo Phật, thì mỗi Khất Sĩ chỉ đƣợc phép dạy một tập sự thôi. Hoặc từ hai năm hay
sắp lên khi nào ngƣời tập sự đủ đức hạnh trí tu và đã đƣợc Giáo hội 20 vị Sƣ xem xét, thì
mới cho vào lớp Tỳ Kheo Khất Sĩ bình đẳng. Bình đẳng của trí tuệ đức hạnh cũng nhƣ
nhau, khi ấy vị Khất Sĩ mới không còn gọi thầy mình trƣớc kia là thầy Hòa thƣợng nữa mà
là tất cả nhƣ nhau bình đẳng của Chơn Lý, là phải do sự chứng nhận của thầy Hòa thƣợng
tạm của mình, phải có thêm một vị Sƣ giới thiệu với giáo hội, kêu là Yết Ma thầy dạy lễ và
một vị Sƣ truyền Giới cho kêu là Giáo thọ, trong khi ấy phải có đủ một Giáo Hội lớp học
20 vị Sƣ ƣng chịu cho nhập chúng nữa mới đƣợc. Nhƣ vậy thì tên gọi Yết Ma hay Giáo
Thọ của Sa di tập sự là chỉ dùng trong khi lên lớp thọ Giới giây lát, chớ không phải danh từ
chức vụ vĩnh viễn của tất cả hay là cấp bằng thi đậu.
Nghĩa là chỉ có một tiếng Khất Sĩ, chớ không có tiếng Hòa thƣợng Yết ma, Giáo thọ tạm
cho mỗi ngƣời kêu gọi.
Trong đạo Phật thì một Khất sĩ mỗi lúc chỉ dạy cho một tập sự thôi, khi một tập sự này đã
đƣợc đƣa vào hàng Khất Sĩ rồi thì mới đƣợc thâu dạy một kẻ khác nữa tiếp tục mãi nhƣ
vậy. Vì là trách nhiệm của thầy rất khó, con không biết dạy lỗi tại cha, dạy không nghiêm
lỗi tại thầy, ông thầy bao gồm tất cả việc phải quấy, tội phƣớc, nên hƣ của học trò. Cơm ăn,
chỗ ở, áo mặc, thuốc men của tập sự là do ngƣời ta cúng dƣờng cho Khất Sĩ, Khất Sĩ mới cho lại tập sự chớ không có ai cúng dƣờng cho tập sự cả, bởi lẽ tập sự còn kém sự học
hạnh. Thế cho nên học trò tập sự là mang chịu ơn thầy rất nặng; Ơn dạy dỗ và ơn đùm bọc.
Vì vậy mà tập sự giao hết tánh mạng mình cho Khất Sĩ uống nắn sửa trau, do lẽ thầy độ mà
ông thầy ấy là tập sự đã ƣng lòng lựa chọn trƣớc. Bởi thế cho nên tập sự Sa di không đƣợc
tự ý, khi nào thầy Tỳ Kheo Khất Sĩ dạy hết sức mình rồi mới gởi Sa di tập sự lên lớp bình
đẳng, hoặc đƣa qua cho vị Khất Sĩ khác giỏi hơn dạy thêm tự ý nơi thầy Tỳ Kheo chớ Sa di
không muốn đƣợc, nhƣợc bằng Sa di tập sự đang theo học nửa chừng với ông thầy vị Sƣ
chƣa hết bài vở, chƣa đƣợc gởi gấm mà tự ý trốn bỏ thầy đi tìm học với ông khác tức là
không ai thâu nhận hết và Sa di đó cũng khó trở lại với thầy mình đƣợc vì lẽ Sa di ấy đã là
tâm bất chánh rồi. Không ông thầy nào dám nhận học trò đó là bởi biết nó đã vong ân bội
nghĩa ghét giận ố nghịch thầy của nó, rồi đây nó sẽ nói quấy cho thầy nó với vị Sƣ này và
rồi nó cũng sẽ bỏ vị Sƣ này mà đi qua vị Sƣ khác nói sái cho vị Sƣ này nữa. Nhƣ thế là tâm
nó đã hƣ rồi, đâu còn vào lớp bình đẳng Khất Sĩ thanh tịnh đƣợc mà thâu dạy làm chi ! Thế
là Sa di tập sự đó bị sa thải vậy. Bởi lẽ đạo Phật cao siêu tốt đẹp lắm không dung chứa
những bậc hạ căn chen lộn đƣợc. Đành rằng : Sự học phải trăm thầy, trăm lớp, triệu bài,
nhƣng mỗi lúc bài nào phải cho rồi bài nấy, thầy lớp nào phải cho xong thầy lớp nấy, phải
do ông thầy mình đang học chứng nhận đƣa lên từng bực, chứ không phải nhƣ học trò lớp
chót nghe nói lớp nhứt thầy hay mà bỏ trốn, chạy vƣợt lên để phá rối ngƣời ta.
Trừ ra một đôi khi đang theo tu học nửa chừng mà ông thầy lại chết, sa ngã, điên loạn,
không dạy chỉ đƣợc nữa mới phải đi học qua một vị khác đƣợc.
Đời cũng vậy mà đạo cũng vậy. Ngoài thế gian thầy giáo ăn tiền dạy cho lấy có cả số trăm
ngƣời, nên hƣ mặc kệ nó về nhà nó ; chớ đạo đức thì khác xa lắm, tội của trò là lỗi tại thầy,
thầy phải chăm nom từng chút phải một thầy một trò, học trò mỗi mỗi phải nối dấu chơn y
theo thầy, thầy trò phải ở khít nhau luôn chớ không phải cƣ gia ở nhà lêu lổng, mà cũng gọi
là đệ tử của các Sƣ và các Sƣ Đại Thừa thì quá từ bi quảng đại mà cũng kêu là bổn đạo
chung lộn. Thế mới biết rằng : Đạo Phật xƣa nay là kỹ càng lắm, rất ít oi, độ đƣợc một
ngƣời là nên một ngƣời, tuy hẹp hòi mà Chánh Pháp lƣu trụ, chớ không phải nhƣ ngoài xã
hội dùng sức lực mà phải cần đông đảo để cho hƣ đạo. Vì vậy mà lòng từ bi của Đại Thừa
Giáo càng rộng là đạo Phật Thích Ca sẽ không còn hình bóng. Càng tranh cạnh tín đồ bổn
đạo, tông giáo càng đông thì đạo Phật không còn cái tiếng “Đạo” và lần lần xã hội, gia đình,
tông giáo, đảng phái khác vì quyền lợi mà hằn học phản đối, chán ghét ố nghịch, hiểu lầm
tiếng đạo Phật. Cũng bởi thế mà ở tại xứ Tàu Thiền lâm và Đại Thừa Giáo là hai chớ
không phải một; Thiền lâm là kẻ tu Thiền Định trong rừng, bậc chỉ sống bằng Định Huệ y
theo Chơn-lý qua khỏi Giới Luật tánh căn thuần tục cao viễn lắm ! Còn cái Đại-Thừa
Giáo là có học không tu, tưởng lầm mình đắc, xưng Tổ khoe thầy, tưởng mình là Phật ;
khác hẳn với Đức Ca Diếp, Đạt Ma mà chẳng hay, lại lầm mình là hơn Phật Thích Ca
xưa nữa.Cái món vốn của Đại-Thừa Giáo là ăn chay, bởi chấp ăn chay mà gọi Tăng-đồ Y Bát, Khất
Sĩ ăn thịt uống sữa là Tiểu Thừa và nhƣ Phật khi xƣa giữ Y Bát, Khất Thực trọn đời cũng
là Tiểu Thừa nữa. Vì mảng tƣởng thế, mà tham sân si khó diệt trừ đƣợc, bởi lẽ không có
Giới Luật, Y Bát Khất Thực thì làm sao trong sạch.
Ấy cũng do sự học nhiều khó tu và cái học đó sẽ bị nhơn duyên cảnh ngộ đổi thay mà xa
lần Chánh Pháp. Điều đó là do theo trình-độ của chúng-sanh dân-tộc mà đạo phải biến
tông-giáo ra nhƣ thế. Sự cải sửa lớn-lao ấy phần chánh là bởi nhà Nho Xuất gia tu Phật mà
còn giữ gốc Nho. Nhà Sƣ mà còn báo hiếu tận trung lo cho gia đình xã hội tƣ riêng, sái
quấy, chƣa nhận ra giáo lý bình đẳng sống chung đại đồng của thế giới trong võ-trụ, các Sƣ
ấy chỉ hiểu đạo của một gia đình xã hội, chớ chƣa nhận ra đạo là cả thế giới chúng sanh
chung nên chƣa cắt đƣợc phàm tâm ái dục. Các Sƣ chẳng đứng trên vũ trụ thì làm sao giải
thoát ra khỏi xã hội gia đình ; do đó mà các nhà Sƣ không bao giờ rời bỏ cái nhà Chùa thờ
chổ ở của mình đƣợc, thì làm sao cho cái đạo lan tràn khắp nơi lớn rộng; thế nên đã mấy
ngàn năm mà Giáo Pháp chỉ lẩn-quẩn trong xứ, các nƣớc khác chẳng ai dùng, khác xa với
Tổ Sƣ xƣa kia và sự tu ấy cũng không giống xƣa nay ai hết.
Cũng vì Đại Thừa Giáo là Nho Giáo, giống nhƣ các tôn giáo khác chƣa đƣợc cái vẻ của
đạo Phật, nên quyển Đại Thừa Giáo nầy có ra là do nơi sự Chấn Hƣng của Đại Thừa Giáo,
Đại Thừa Giáo tai nạn từ xứ Tàu sang đến xứ Việt ; Đại Thừa Giáo đã chẳng biết bao
nhiêu tai nạn không thể đến với Chơn Lý đƣợc. Cũng nhƣ chúng ta đều thấy từ những mấy
chục, trăm năm về trƣớc Đại Thừa Giáo là đạo Phật rất tối tăm mờ ám, mà ngƣời ta cho mê
muội ở xứ Việt : Đại Thừa Giáo mới đƣợc sự học thức thông minh trong khoảng mấy chục
năm gần đây. Đại Thừa Giáo là một nền đạo tân tiến, khoa học, chớ không phải bảo thủ,
bảo thủ cái không kinh nghiệm. Đại Thừa Giáo từ nay sẽ tiến lên, tiến đến Chơn Lý tiến
đến đạo Phật, rồi đây sẽ không còn tên Đại Thừa Giáo nhƣ xứ Tàu nữa. Cũng vì sự tiến
gần đến Chánh Pháp nhƣ khi xƣa của Phật Thích Ca và chƣ Phật quá khứ, mà đạo Phật của
xứ Việt đã bắt đầu cải cách từ lâu, sẽ từ có học, đến tu hành và đắc đạo cũng nhƣ khi xƣa
xứ Ấn Độ .
Do đó mà quyển Đại Thừa Giáo nầy có ra là để chỉ rõ một sự thay đổi của cái tiếng đạo
Phật từ lâu, một tấn tới của trình độ dân tộc, một tiến cấp trong hàng Phật tử, một vui mừng
của đạo Phật vì chẳng bao lâu nữa đây, đạo Phật sẽ là đạo Phật, con đƣờng của ngƣời giác
ngộ chúng sanh chung hay là Đạo, chớ không còn phải Đại Thừa Giáo của xứ Tàu hay là
do đạo Khổng tử, nhân đạo nhỏ hẹp.
Việc ấy là một việc tốt đẹp, ngoài ƣớc lƣợng mà ít ai suy tƣởng đến và hiểu biết rõ ra, chắc
là ai ai cũng thảy đều vui mừng tán dƣơng ca tụng hết.
Minh Đăng Quang.
‘‘Đại Thừa Giáo phẩm 42 trong Bộ Chơn Lý 69 phẩm và sẽ gởi tiếng Anh - Hoa tiếp’’.
 

Hoàng Mai

Registered
Tham gia
22 Thg 10 2013
Bài viết
372
Điểm tương tác
188
Điểm
43
Kính chú nhãn đầu mùa !

Cách nay nửa thế kỷ có một Tu sĩ mày mò tự tìm đường về với cội nguồn đạo Phật, Ngài không tranh danh đoạt lợi gì với đời, nhưng đời đã không dung chứa Ngài, khiến cho vào một buổi sáng mùa Xuân Ngài đã VẮNG BÓNG (mùng 1 tháng 2); đó là vị đã khai sáng nên Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam _ Ngài Minh Đăng Quang.

Do vì BỊ VẮNG BÓNG khi còn rất trẻ, cho nên Ngài chưa chứng ngộ gì, dẫn đến Bộ Chơn Lý do Ngài viết hãy còn sơ khai, nhiều khiếm khuyết. Dù sao đây cũng là di vật của Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang, người chỉ chuyên tu mà "bị Sóng Thần" cuốn mất tích, cho nên D/Đ có dành một chỗ cho Giáo Lý của Ngài được xiễn dương, đó là Diễn Đàn Con "Hệ Phái Khất Sĩ".

Với tư cách Mod của Box Websites Phật Giáo Hoàng Mai xin di chuyển bài viết của Ngài Minh Đăng Quang về với Box "Hệ Phái Khất Sĩ" _ là nơi dành cho Giáo Lý Khất Sĩ.

Kính Thông Báo !
 
Bên trên