vienquang2

TU ĐÚNG- TU CHƯA ĐÚNG

vienquang2

Administrator

Thành viên BQT
Reputation: 100%
Tham gia
12/7/07
Bài viết
1,226
Điểm tương tác
1,223
Điểm
113
Bài 51.- Pháp Hành Vi passana.

Dưới đây là vài thí dụ cụ thể tu tập Tứ Niệm Xứ.

1/ Niệm thân:

Bình thường khi đi, đứng, cử động, ai nấy đều cho rằng Ta (mình) đi, đứng, cử động.

Nhưng nay, mỗi khi đi, hành giả nên niệm (ghi nhận): “Đi, có sự đi” hoặc “chân, bước” hoặc “bước, bước, bước”.

* Ban đầu bạn có thể không để ý, nhưng sau một thời gian thực tập, bạn sẽ trực tiếp nhận ra chỉ có sự đi là một thực tại, trong đó không có Ai đang đi, không có Ta (Tôi) đang đi! .

+ Vì sao thế?

- Vì đó là một động tác vô chủ, là sự phối hợp chuyển động của thân và tâm.

- Nếu nhìn kỹ, bạn sẽ thấy trong động tác đi đó, khởi đầu bằng một ý niệm “muốn đi”, và ý niệm này tác động vào thân khiến chân nhúc nhích, di chuyển.

- Sự phối hợp giữa tâm (ý niệm muốn đi) và thân (chân) tạo ra sự đi.

- Do đó sự đi vô chủ, không có một ai đi cả!

- Nếu thấy có cái Ta đang đi thì cái Ta đó ở đâu?

- Cái Ta đó chỉ là một ảo tưởng của tâm bịa đặt ra rồi gán vào sự đi một tác giả.

2/ Niệm Thọ:

Khi ngồi thiền lâu, bỗng nhiên cảm thấy đau nhức nơi chân thì bạn ghi nhận: “Có cảm giác đau nơi chân” hoặc “Đau, đau, đau”.

Bạn không nên niệm: “Tôi đau chân, hoặc chân tôi đau”.

+ Vì sao?

- Vì thực tế không có một cái Tôi nào đau chân, và cũng không có cái chân nào là của Tôi!

+ “Không có Tôi đau chân” vậy Ai đau chân?

- Không có ai đau chân cả! Chỉ có một cảm giác đau đang phát sinh nơi chân và một cái tâm đang ghi nhận mà thôi!

- Khi cảm giác đau phát sinh, nó sẽ trải qua bốn giai đoạn:1. phát sinh, 2. tăng trưởng, 3. suy yếu, 4. tan biến.

- Nếu bạn vững tâm kiên nhẫn quán sát thì sẽ thấy nó đau hơn, rồi từ từ dịu dần và tan biến.

- Thấy được vậy tức là chứng nghiệm được tính chất vô thường của cảm thọ. - Nhưng nếu bạn không chịu nổi cơn đau thì cứ nhẹ nhàng gỡ chân ra hoặc thay đổi tư thế.

- Điều chính yếu là đừng nhận cảm thọ là Ta (mình, tôi).

3/ Niệm Tâm:

Trong lúc hành thiền, nếu có một ý niệm nhớ tưởng khởi lên, bạn phải tỉnh giác ghi nhận liền:

+ “Có một ý niệm nhớ tưởng đang khởi lên”

+ hoặc “Có sự nhớ” hoặc “Nhớ, nhớ, nhớ”.

+ Sau khi niệm xong bạn phải chú ý xem ý niệm đó còn hay tan biến.

- Nếu còn thì bạn tiếp tục ghi nhận sự diễn tiến của nó.

- Trong sự ghi nhận này không có một cái Ta nào tưởng nhớ và cũng không có Ai tưởng nhớ.

- Chỉ có một ý niệm nhớ tưởng vừa khởi lên trong tâm mà thôi.

- Với người chưa quen tu tập chánh niệm, theo dõi tâm ý thì khi nhớ tưởng ai hay sự vật gì thì họ cho Ta (mình) là người nhớ tưởng, và chạy theo đối tượng nhớ tưởng.

+ Thí dụ ngồi nhớ tới chồng con, thì hình ảnh chồng con hiện ra trong tâm.

- Rồi tình cảm khởi lên tiếp theo, và những hình ảnh đó trở nên linh động, lôi cuốn cái Ta vào thương nhớ, giận hờn, v.v...

4/ Niệm Pháp:

Đang ngồi thiền, bỗng nhiên bên ngoài có tiếng động như tiếng xe hơi, hay tiếng nói chuyện ồn ào, lúc đó hành giả niệm:

+ “Nghe, nghe, nghe” (đó là nương theo nhĩ căn)

+ hoặc niệm: “Có tiếng động” (đó là nương theo thanh trần).

- Đừng chạy ra nghe xem đó là tiếng gì, tiếng của ai.

- Ngoài giờ ngồi thiền, nếu bị ai mắng chửi thì bạn cũng niệm như trên: “Nghe, nghe, nghe” hoặc “Có âm thanh”.

- Có những người nghe dạy là phải niệm thường xuyên, lúc nào cũng phải niệm, cho nên họ niệm như cái máy, lập đi lập lại: đi, đi, đi; đau, đau, đau; nhớ, nhớ, nhớ; nghe, nghe, nghe, v.v...

- Niệm mà tâm không chú ý vào hành động, cảm thọ, tâm tưởng. - Thấy có vẻ niệm đó, nhưng không phải là chánh niệm, vì không có sự tỉnh giác, theo dõi, ghi nhận và biết rằng có sự việc đó đang xảy ra.

+ Tu tập đúng đắn Tứ Niệm Xứ, hành giả sẽ có cái nhìn khách quan, không dính mắc đối với sự vật.

- Không còn cho thân là Ta nên không nâng niu, ái nhiễm nó nữa.

- Không còn cho những cảm thọ là Ta nên không chạy theo khoái lạc, cũng không xua đuổi khổ thọ.

- Không còn lầm cho những ý niệm, tư tưởng, suy nghĩ là Ta nên không bị tham, sân, si, vui, buồn, tủi, nhục chi phối.

- Không còn cho các pháp là của Ta, liên quan đến Ta nên không bám víu, thủ xả, ưa ghét. Nhờ vậy hành giả sống an nhiên tự tại, vượt thoát khỏi tham dục, ưu tư của cuộc đời.

VÔ NGÃ- TÂM - Page 3 4_xo1_10
 
GÓP PHẦN LAN TỎA GIÁ TRỊ ĐẠO PHẬT

Ủng hộ Diễn Đàn Phật Pháp không chỉ là đóng góp vào việc duy trì sự tồn tại của Diễn Đàn Phật Pháp Online mà còn giúp cho việc gìn giữ, phát huy, lưu truyền và lan tỏa những giá trị nhân văn, nhân bản cao đẹp của đạo Phật.

Mã QR Diễn Đàn Phật Pháp

Ngân hàng Vietcombank

DUONG THANH THAI

0541 000 1985 52

Nội dung: Tên tài khoản tại diễn đàn - Donate DDPP (Ví dụ: thaidt - Donate DDPP)

vienquang2

Administrator

Thành viên BQT
Reputation: 100%
Tham gia
12/7/07
Bài viết
1,226
Điểm tương tác
1,223
Điểm
113
Bài 52.- Tứ Niệm Xứ và kinh Vô Ngã Tướng .

* Tứ Niệm Xứ và kinh Vô Ngã Tướng Cứu cánh của Thiền Tứ Niệm Xứ là chứng ngộ được ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn và các pháp.

+ Chứng ngộ vô ngã là chứng quả A-la-hán, giải thoát sinh tử, đạt được Niết bàn.

+ Nếu chưa chứng quả thì ít ra cũng giảm trừ được rất nhiều phiền não khổ đau do cái ngã gây nên.

+ Thông thường khi hành thiền Tứ Niệm Xứ, các thiền sinh không được dạy hay tiết lộ gì về vô ngã, bởi vì các thiền sư muốn để thiền sinh phát triển chánh niệm rồi tự chứng nghiệm lấy một mình, phải thấy rõ tiến trình vô thường, khổ, xảy ra trong từng sát na.

- Thiền sinh phải trình pháp thường xuyên để được hướng dẫn tiếp.- Đây là một điều tốt, nó tránh cho hành giả rơi vào suy luận kiến thức.

- Khi biết hay thấy được điều gì thì đó là do thực hành chứ không phải do đọc sách hay nghiên cứu mà biết.

- Đây là phương pháp tiệm tu đốn ngộ, cứ chăm chỉ tu hành thì sẽ chứng nghiệm được vô ngã.

+ Vô ngã là cứu cánh, hành thiền (chánh niệm) là phương tiện.

- Tuy nhiên bạn cũng có thể dùng ngay vô ngã làm phương tiện quán chiếu, đó là áp dụng kinh Vô Ngã Tướng vào việc tu tập.

- Bạn chỉ cần hiểu rõ lý vô ngã và học thuộc lòng mấy câu của đức Phật đã dạy trong kinh đem ra áp dụng vào đời sống hàng ngày.

- 1. Mỗi khi nhìn vào thân thì tự nhủ: thân này không phải là Ta, là của Ta.

- 2. Mỗi khi có cảm thọ vui buồn, thương ghét, giận hờn thì tự nhủ: cảm thọ này không phải là Ta, là của Ta.

- 3. Mỗi khi tưởng nhớ cái gì thì tự giác nói: cái tưởng này không phải là Ta, là của Ta. Nếu nó cứ trở lại hoài thì mời nó đi chơi chỗ khác.

- 4. Mỗi khi suy nghĩ điều gì thì phải tỉnh giác nhận ra: những ý nghĩ này không phải là Ta, là của Ta.

- 5. Mỗi khi nhận thức, phân biệt điều gì thì tự nhắc: sự nhận thức này không phải là Ta, là của Ta.

+ Đây có thể được xem như là đốn ngộ tiệm tu, tức là ngộ lý vô ngã rồi đem ra áp dụng tu hành, cho đến khi tư tưởng vô ngã thấm nhuần trong tâm, nhìn vào năm uẩn liền thấy đó không phải là Ta, là của Ta.

* Nhưng tôi khuyên bạn đừng vội ham chữ “đốn ngộ” tiệm tu, vì đốn ngộ ở đây không giống như của Thiền tông, vì đốn ngộ của Thiền tông là nhận ra bổn tánh, không phải do ý thức mà được. Đốn ngộ ở đây chỉ là hiểu và chấp nhận lý vô ngã rồi đem ra áp dụng tu hành ngay từ đầu, không cần phải hành thiền một thời gian rồi mới nhận ra nó .

+ Cách tốt nhất là phối hợp cả hai kinh Tứ Niệm Xứ và Vô Ngã Tướng vào việc tu hành.

  • Lý thì biết là vô ngã,
  • nhưng sự thì phải hành thiền để chứng nghiệm, thấy rõ trực tiếp thế nào vô ngã.

* Ngay cả sau khi trực nghiệm được vô ngã cũng chưa phải là xong, bởi vì tập khí chấp ngã còn dầy, sức vô ngã rất yếu nên phải tiếp tục tu hành cho đến khi chứng quả A-la-hán mới gọi là xong.

* Trong lúc tu tập vô ngã, bạn nên tránh dùng chữ Ta và của Ta, mặc dù nó là quy ước tục đế.

- Chỉ trừ khi nào bất đắc dĩ phải nói chuyện với người khác, nhất là người không hiểu biết gì về vô ngã thì mới dùng chữ Ta (tôi) và của Ta.

+ Thí dụ trong một khóa tu về Vô Ngã, mọi người đã được học hiểu chút ít về vô ngã, khi bạn cần uống nước thì có thể nói:

- xin anh, chị cho (cái thân này) một ly nước, thay vì nói xin cho tôi một ly nước. Khi muốn đi ngủ thì nói: cái thân tứ đại này mệt cần đi ngủ, thay vì nói tôi muốn đi ngủ.

- Khi bực mình ai thì nói: cái tâm này đang bực, thay vì nói tôi bực.

- Khi nói về nhà cửa của mình thì nói: cái nhà của thân tứ đại này.

- Khi nói về cá nhân mình hay người khác thì dùng chữ ngũ uẩn: ngũ uẩn (tên A) này cần nói chuyện với ngũ uẩn B, C, D.

+ Sau khi quán chiếu thuần thục vô ngã, bạn có thể dùng chữ “Ai?” để làm phương tiện nhắc nhở mỗi khi bị phiền não quấy nhiễu.

+ Thí dụ:

- khi cơn giận nổi lên liền hỏi: “Ai đang tức giận?”, “Không có Ta thì Ai tức đây?” Hãy nhìn thẳng vào cái Ai đó xem nó là ai? Ở đâu? Trong thân hay tâm?

- Nhìn kỹ một hồi thì nó sẽ biến mất. Bởi vì không có ai tức, chỉ có một ý niệm sân vừa khởi lên trong tâm mà thôi.

- Nếu không nhận ra nó (niệm sân) thì nó liền trở thành Ta, tâm bám vào niệm sân rồi tưởng là Ta sân.

- Bạn hãy áp dụng ngay kinh Vô Ngã Tướng: “Cơn giận này không phải là Ta, là của Ta”, “Cái buồn này không phải là Ta, là của Ta”, “Cái ghét này không phải là Ta, là của Ta”, chúng chỉ là những ý niệm (tâm sở) khởi lên một thoáng giây rồi tiêu tan, như những đám mây trên bầu trời.

VÔ NGÃ- TÂM - Page 3 Mzey1_10
 

vienquang2

Administrator

Thành viên BQT
Reputation: 100%
Tham gia
12/7/07
Bài viết
1,226
Điểm tương tác
1,223
Điểm
113
PHẦN VI - Từ Ta về Tâm.
tranhchantrau.webp

Bài 53. Đưa tâm trở về.
Tâm bắt đầu đi hoang từ lúc bất giác vô minh khởi niệm chấp Ta (ngã), tự quên mình là ai, quên mất tự tánh diệu minh, năng khởi, năng biết, nên chìm đắm trong thế giới vật chất do chính nó tạo ra.

Muốn chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi thì tâm phải lên đường trở về.

+ Trở về đâu?

- Trở về bổn tánh của nó, trong đó không có một cái ngã nào hết.

* Trên đường trở về có ba thứ mà tâm cần phải giải quyết: 1. phiền não, 2. ái dục, và 3. vô minh.

+ Tâm bị dính vào cái thân nên phải chịu sinh, già, bệnh, chết.

+ Nếu không muốn tái sinh thì tâm phải ngừng tạo nghiệp (hữu), bởi vì tạo nghiệp nên mới bị nghiệp lực dẫn đi luân hồi.

+ Muốn ngưng tạo nghiệp thì đừng ái, thủ. Vì có yêu, ghét nên mới sinh ra thủ, xả và phiền não.

+ Có thủ, xả (lấy, bỏ) là có tạo nghiệp.

+ Có yêu thì có thương, có nhớ, muốn ở gần, muốn chiếm hữu, muốn đủ thứ.

+ Ở gần không được, muốn chiếm hữu không được thì buồn khổ (ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ).

+ Khi ghét thì muốn tránh xa, muốn bỏ đi.

+ Tránh xa hoặc bỏ đi không được thì bực tức, khó chịu (oán tắng hội khổ).

+ Vì thế hễ tâm có yêu ghét là có phiền não theo sau.

+ Muốn hết phiền não thì tâm đừng yêu ghét, đừng ái dục.

+ Vấn đề khổ đau của con người là phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ganh ghét, buồn, nhớ, giận hờn, v.v...).

+ Nguyên nhân gần sinh ra phiền não là ái dục,

+ nguyên nhân xa là vô minh.

+ Cho nên muốn hết phiền não thì phải diệt trừ ái dục và vô minh.

+ Làm thế nào để hết ái dục?

- Có nhiều người cho rằng muốn hết ái dục thì phải tránh xúc và thọ, vì có tiếp xúc qua lại nên cảm thọ mới phát sinh, nên họ xa lánh thế gian đi vào rừng núi.

- Nhưng đó chỉ là tránh tiếp xúc với loài người, chứ sáu căn vẫn tiếp xúc với sáu trần như thường, mắt vẫn thấy hình sắc, tai vẫn nghe âm thanh, mũi vẫn ngửi mùi, khi ăn lưỡi vẫn biết vị, thân vẫn biết nóng lạnh, trơn ngứa, v.v...

+ Theo 12 nhân duyên thì thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là quả của quá khứ nên không thể diệt trừ.

+ Ngay cả đức Phật và các vị A-la-hán cũng có lạc thọ, khổ thọ và xả thọ khi tiếp xúc với trần cảnh.

+ Khi gặp trời nắng hay mưa, các ngài cũng bị nóng lạnh, bệnh hoạn, .- Tuy thọ khổ nơi thân nhưng tâm của các ngài vắng lặng, không có thọ khổ.

+ Khi được ăn uống đầy đủ, khí hậu mát mẻ, thân thể khỏe mạnh các ngài cũng không vui thích cảm giác khoái lạc nơi thân.

+ Ngoài ra thọ cũng là một uẩn cấu tạo nên con người, cho nên không thể dứt trừ ái bằng cách từ bỏ xúc và thọ.

+ Muốn dứt trừ ái dục thì phải tìm về cội nguồn xem Ai ái dục?

- Người thích ái dục là Ai để loại trừ, đó tức là tu tập vô ngã, chứ không phải tránh né xúc và thọ.

 

vienquang2

Administrator

Thành viên BQT
Reputation: 100%
Tham gia
12/7/07
Bài viết
1,226
Điểm tương tác
1,223
Điểm
113
Bài 54.- Tứ Niệm Xứ và kinh Vô Ngã Tướng.

Cứu cánh của Thiền Tứ Niệm Xứ là chứng ngộ được ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn và các pháp.

+ Chứng ngộ vô ngã là chứng quả A-la-hán, giải thoát sinh tử, đạt được Niết bàn.

+ Nếu chưa chứng quả thì ít ra cũng giảm trừ được rất nhiều phiền não khổ đau do cái ngã gây nên.

* Thông thường khi hành thiền Tứ Niệm Xứ, các thiền sinh không được dạy hay tiết lộ gì về vô ngã, bởi vì các thiền sư muốn để thiền sinh phát triển chánh niệm rồi tự chứng nghiệm lấy một mình, phải thấy rõ tiến trình vô thường, khổ, xảy ra trong từng sát na.

+ Thiền sinh phải trình pháp thường xuyên để được hướng dẫn tiếp.- Đây là một điều tốt, nó tránh cho hành giả rơi vào suy luận kiến thức.

+ Khi biết hay thấy được điều gì thì đó là do thực hành chứ không phải do đọc sách hay nghiên cứu mà biết. - Đây là phương pháp tiệm tu đốn ngộ, cứ chăm chỉ tu hành thì sẽ chứng nghiệm được vô ngã.

+ Vô ngã là cứu cánh, hành thiền (chánh niệm) là phương tiện.

+ Tuy nhiên bạn cũng có thể dùng ngay vô ngã làm phương tiện quán chiếu, đó là áp dụng kinh Vô Ngã Tướng vào việc tu tập.- Bạn chỉ cần hiểu rõ lý vô ngã và học thuộc lòng mấy câu của đức Phật đã dạy trong kinh đem ra áp dụng vào đời sống hàng ngày.

- Mỗi khi nhìn vào thân thì tự nhủ: thân này không phải là Ta, là của Ta.

- Mỗi khi có cảm thọ vui buồn, thương ghét, giận hờn thì tự nhủ: cảm thọ này không phải là Ta, là của Ta.

- Mỗi khi tưởng nhớ cái gì thì tự giác nói: cái tưởng này không phải là Ta, là của Ta.

- Nếu nó cứ trở lại hoài thì mời nó đi chơi chỗ khác.

- Mỗi khi suy nghĩ điều gì thì phải tỉnh giác nhận ra: những ý nghĩ này không phải là Ta, là của Ta.

- Mỗi khi nhận thức, phân biệt điều gì thì tự nhắc: sự nhận thức này không phải là Ta, là của Ta.

+ Đây có thể được xem như là đốn ngộ tiệm tu, tức là ngộ lý vô ngã rồi đem ra áp dụng tu hành, cho đến khi tư tưởng vô ngã thấm nhuần trong tâm, nhìn vào năm uẩn liền thấy đó không phải là Ta, là của Ta.

* Nhưng tôi khuyên bạn đừng vội ham chữ “đốn ngộ” tiệm tu, vì :

+ đốn ngộ ở đây không giống như của Thiền tông, vì đốn ngộ của Thiền tông là nhận ra bổn tánh, không phải do ý thức mà được.

+ Đốn ngộ ở đây chỉ là hiểu và chấp nhận lý vô ngã rồi đem ra áp dụng tu hành ngay từ đầu, không cần phải hành thiền một thời gian rồi mới nhận ra nó.

+ Cách tốt nhất là phối hợp cả hai kinh Tứ Niệm Xứ và Vô Ngã Tướng vào việc tu hành.

+ Lý thì biết là vô ngã, nhưng sự thì phải hành thiền để chứng nghiệm, thấy rõ trực tiếp thế nào vô ngã.

+ Ngay cả sau khi trực nghiệm được vô ngã cũng chưa phải là xong, bởi vì tập khí chấp ngã còn dầy, sức vô ngã rất yếu nên phải tiếp tục tu hành cho đến khi chứng quả A-la-hán mới gọi là xong.

+ Trong lúc tu tập vô ngã, bạn nên tránh dùng chữ Ta và của Ta, mặc dù nó là quy ước tục đế. - Chỉ trừ khi nào bất đắc dĩ phải nói chuyện với người khác, nhất là người không hiểu biết gì về vô ngã thì mới dùng chữ Ta (tôi) và của Ta.

+ Thí dụ trong một khóa tu về Vô Ngã, mọi người đã được học hiểu chút ít về vô ngã, khi bạn cần uống nước thì có thể nói:

- xin anh, chị cho (cái thân này) một ly nước, thay vì nói xin cho tôi một ly nước.

- Khi muốn đi ngủ thì nói: cái thân tứ đại này mệt cần đi ngủ, thay vì nói tôi muốn đi ngủ.

- Khi bực mình ai thì nói: cái tâm này đang bực, thay vì nói tôi bực.

- Khi nói về nhà cửa của mình thì nói: cái nhà của thân tứ đại này.

- Khi nói về cá nhân mình hay người khác thì dùng chữ ngũ uẩn: ngũ uẩn (tên A) này cần nói chuyện với ngũ uẩn B, C, D.

+ Sau khi quán chiếu thuần thục vô ngã, bạn có thể dùng chữ “Ai?” để làm phương tiện nhắc nhở mỗi khi bị phiền não quấy nhiễu.

+ Thí dụ khi cơn giận nổi lên liền hỏi:

- “Ai đang tức giận?”,

- “Không có Ta thì Ai tức đây?”

+ Hãy nhìn thẳng vào cái Ai đó xem nó là ai? Ở đâu? Trong thân hay tâm? Nhìn kỹ một hồi thì nó sẽ biến mất.

- Bởi vì không có ai tức, chỉ có một ý niệm sân vừa khởi lên trong tâm mà thôi.

- Nếu không nhận ra nó (niệm sân) thì nó liền trở thành Ta, tâm bám vào niệm sân rồi tưởng là Ta sân.

+ Bạn hãy áp dụng ngay kinh Vô Ngã Tướng:

- “Cơn giận này không phải là Ta, là của Ta”,

- “Cái buồn này không phải là Ta, là của Ta”,

- “Cái ghét này không phải là Ta, là của Ta”,

+ chúng chỉ là những ý niệm (tâm sở) khởi lên một thoáng giây rồi tiêu tan, như những đám mây trên bầu trời.

VÔ NGÃ- TÂM - Page 3 Mzey2_10
 

Tự Độ

Registered

Phật tử
Reputation: 47%
Tham gia
23/8/24
Bài viết
360
Điểm tương tác
80
Điểm
28
Vô ích!
Nếu không thể nào buông bỏ được cái thâm căn cố đế như mặt mũi này, danh hiệu trí giả, thức giả, danh gia này.....v....v..
Nhất là bám chặt vào sự hiểu biết của mình.

Tư theo sự hiểu biết của mình chẳng đi đến đâu.

Vạn Pháp Vô Ngã.
Ðại đức Ananda có bạch hỏi Phật:
Bạch hóa Ðức Thế-Tôn; Ngài dạy rằng:

Thế giới rỗng không có nghĩa là gì?

- Này Ananda, Thế giới có nghĩa là rỗng không, không có Ta, không phải Ta, nên gọi là rỗng không (vô-ngã).

Không có Ta thì: Vô Ngã nào tu Vô Ngã nào?
 
Sửa lần cuối:

vienquang2

Administrator

Thành viên BQT
Reputation: 100%
Tham gia
12/7/07
Bài viết
1,226
Điểm tương tác
1,223
Điểm
113
Bài 55.- CHÁNH NIỆM.

Chúng ta thường nghe rất nhiều về chữ chánh niệm, nhưng cần phân biệt giữa niệm, chánh niệm, và tà niệm.

+ Trước hết niệm là gì?

- Niệm (sati) có nghĩa là nhớ (memory), để ý ghi nhận (notice), và tỉnh thức (mindfulness).

- “Niệm là nguồn năng lượng giúp ta ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại trong thân, tâm và hoàn cảnh.

- Những điều này nhiều lắm, ta không thể nhận diện được tất cả một lượt. - Nhưng ta có thể nhận diện những gì nổi bật nhất, hoặc điều mà ta cần nhận diện.

  • Nếu ta để ý tới hơi thở vào ra và nhận diện được đấy là hơi thở vào ra, đó gọi là phép niệm hơi thở...
  • nếu đang giận mà ta có ý thức được là ta đang giận, đó gọi là niệm cơn giận”.

+ Nói đơn giản, niệm là tỉnh thức ghi nhận, ý thức được những gì đang xảy ra trong hiện tại.

- Nhưng niệm suông, ghi nhận suông, đang làm gì biết mình đang làm cái đó, chưa hẳn là chánh niệm.

- Đang giận biết là mình đang giận chưa hẳn là chánh niệm.

* Nhiều người lầm tưởng niệm là chánh niệm, hoặc chỉ cần an trú trong hiện tại là chánh niệm, hoặc cứ thưởng thức (enjoy) những gì mình đang có là chánh niệm.- đều sai lầm-

Ví như:

- Một người đang ăn cắp đồ, biết rõ là mình đang ăn cắp và chú tâm làm việc ăn cắp một cách rất “tỉnh thức” để không bị bắt. Như vậy người ăn cắp này có chánh niệm hay không? Dĩ nhiên là Tà Niệm rồi !

- Niệm có chánh và tà. Niệm là một tâm sở trong năm tâm sở biệt cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, huệ).

- Tự nó đứng một mình chưa đủ để gọi là chánh niệm.

- Niệm được dùng như thế nào, với mục đích gì, và đối tượng của nó là tà hay chánh?

- Nếu chỉ ghi nhận suông, hoặc ý thức an trú trong hiện tại, đó mới chỉ là niệm chứ chưa phải là chánh niệm, nhiều khi có thể là tà niệm.

- Niệm cần phải đi chung với giới (sila), chánh kiến (samma-ditthi) và chánh tư duy (samma-sankappa) mới được xem là chánh niệm (samma-sati).



+ Khi tâm có đề mục thiền quán, hoặc có đối tượng “chân chính” để an trụ như bốn niệm xứ nhằm mục đích kiểm soát và chế ngự tham dục, phiền não thì đó mới gọi là chánh niệm.

- Thí dụ: lặt rau, làm bếp là công việc vô hại, không phạm giới, cho nên khi làm việc này tôi chú tâm vào đó, không để cho tâm suy nghĩ mông lung, bậy bạ.- Đây có thể gọi là chánh niệm.

- Nếu tâm phóng đi thì tôi kéo nó trở lại việc lặt rau làm bếp.

- Khi ngồi thiền theo dõi hơi thở, “hơi thở ra vô” trở thành đối tượng của tâm. Tâm luôn theo dõi và ghi nhận hơi thở, để đừng tưởng nhớ, lo âu về quá khứ tương lai. - Đây gọi là chánh niệm.

- Nhưng khi đang ăn cắp mà tôi tập trung tâm ý vào việc ăn cắp, biết rõ là tôi đang ăn cắp, và ăn cắp những thứ gì. - Cái này không phải là chánh niệm mặc dù tâm có mặt trong hiện tại và đang tỉnh thức ghi nhận, vì hành động mà tôi đang làm là phạm giới, là tà nghiệp.

+ Sự “an trú trong hiện tại” này không còn là chánh niệm nữa mà là tà niệm. - Không thể có sự ăn cắp trong chánh niệm được.

- Khi tức giận ai, tôi chửi và biết là mình đang chửi những gì, chửi rất bình tĩnh khéo léo (chửi xéo). Sự bình tĩnh, tỉnh thức biết là mình đang chửi này không phải là chánh niệm, bởi vì hành động chửi là tà ngữ. - Cho nên tỉnh thức biết những gì đang xảy ra trong hiện tại chưa đủ để gọi là chánh niệm.

- Đang giận mà biết là mình đang giận và muốn chửi lại cho đã nư, không phải là chánh niệm.

- Đang giận, biết là mình đang giận và biết là không nên chửi hay đánh đá người ta mà cần phải từ bi hóa giải, đó mới là chánh niệm. - Bởi vì nó kèm theo chánh kiến và chánh tư duy.

- Đang làm gì và biết là mình đang làm cái đó chưa phải là chánh niệm, vì cái mình đang làm đó thuộc về chánh nghiệp hay tà nghiệp?

- Nếu là tà nghiệp thì không thể gọi là chánh niệm.- Không thể nói cắt cổ gà trong chánh niệm được.

- Trong những khóa thiền Minh Sát, thiền sinh sống theo giới luật và nội quy và được thiền sư hướng dẫn trực tiếp cho nên khi thực hành theo dõi, quán sát, chú niệm mọi cử chỉ hành động đều là chánh niệm.

- Niệm cần phải có ít nhất là giới, chánh kiến và chánh tư duy đi cùng thì mới gọi là chánh niệm.

- Giới bao gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.

* Chữ niệm trong kinh Niệm Xứ có mục đích rõ ràng là chế ngự tham dục và phiền não để đạt đến chánh trí, giải thoát.

* Ngoài kinh Niệm Xứ ra, trong kinh Phân Tích, đức Phật có định nghĩa rõ về chánh niệm như sau:

* “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo,

+ Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;

+ Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;

+ Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời;

+ Tỷ- kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời.

* Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.

- ” Còn lặt rau mà chú tâm trong việc lặt rau, rửa chén chú tâm trong việc rửa chén, đây chỉ là an trú trong hiện tại, có thể tạm gọi là chánh niệm, bởi vì nó chế ngự tâm, không cho tâm suy nghĩ vọng tưởng, lo âu, phiền não, nhưng chưa đủ để phát sinh trí tuệ đưa đến giải thoát sinh tử.

+ Trên đây là nói về niệm theo thiền quán.

* Người tu Tịnh Độ cũng có niệm, đó là niệm Phật.

+ Niệm Phật có nghĩa là nhớ tưởng đến Phật.

+ Đức Phật A Di Đà là đối tượng của sự tu hành, của sự hướng tâm.

+ Khi chú tâm và cột tâm nhớ đến Phật đó cũng là chánh niệm.

+ Khi phóng tâm nghĩ tới chuyện gì khác thì gọi là thất niệm (mất chánh niệm).

+ Tuy nhiên có nhiều người miệng niệm Phật mà tâm không nhớ tới Phật, lại chú tâm vào xâu chuỗi, hoặc chú tâm vào âm thanh, hoặc niệm liên hồi như cái máy theo kiểu nhồi sọ đến nỗi tiếng niệm Phật cứ chạy mòng mòng trong đầu làm cho mất ngủ.

+ Họ tưởng niệm Phật như vậy là đúng, nhưng nó không còn mang ý nghĩa nhớ tưởng đến Phật nữa.

+ Niệm theo thiền là tỉnh giác ghi nhận,

+ theo Tịnh Độ là tỉnh giác nhớ tưởng. - Khi thương nhớ ai, chỉ cần nghe đến tên người đó thì hình ảnh người đó hiện ra trong tâm và làm ta muốn tìm đến người đó.

+ Mục đích niệm Phật cũng vậy.- Niệm Phật là nhớ tưởng đến Phật và cố gắng làm cho tâm tìm đến Phật.

+ Khi niệm ra tiếng thì đó là tự nhắc nhở mình một cách mạnh mẽ hơn, chứ không phải là nhồi sọ.

+ Tuy nhiên nếu không hiểu mà niệm như cái máy cũng được, nhờ đó mà bớt nghĩ bậy, nói bậy.

VÔ NGÃ- TÂM - Page 3 Nim2_j10
 

Tự Độ

Registered

Phật tử
Reputation: 47%
Tham gia
23/8/24
Bài viết
360
Điểm tương tác
80
Điểm
28
Kính ngài Viên Quang.
Tự Độ vẫn tự chưa rõ nên:
Thành thật xin hỏi ngài
Không có Chánh Kiến thì không thể nào có Chánh Niệm?
Làm sao có Chánh Kiến?
Khi chúng ta thấy mọi sự vật bằng NIỆM?
Hay
Chúng ta thấy mọi sự vật bằng suy nghĩ, tưởng nhớ?
 
GÓP PHẦN LAN TỎA GIÁ TRỊ ĐẠO PHẬT

Ủng hộ Diễn Đàn Phật Pháp không chỉ là đóng góp vào việc duy trì sự tồn tại của Diễn Đàn Phật Pháp Online mà còn giúp cho việc gìn giữ, phát huy, lưu truyền và lan tỏa những giá trị nhân văn, nhân bản cao đẹp của đạo Phật.

Mã QR Diễn Đàn Phật Pháp

Ngân hàng Vietcombank

DUONG THANH THAI

0541 000 1985 52

Nội dung: Tên tài khoản tại diễn đàn - Donate DDPP (Ví dụ: thaidt - Donate DDPP)

Top