KHOÁ HƯ LỤC trích lục

tanphuqm

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia
27 Thg 10 2006
Bài viết
1,775
Điểm tương tác
90
Điểm
48
BỐN NÚI.

Vốn dĩ! Tứ đại(1) đều không, năm uẩn (2) chẳng có . Do không dấy động, vọng thành sắc, sắc tự chân không; nên vọng từ không, không hiện vọng, vọng sinh các sắc. Đã trái không sinh không hoá, nên mãi có hoá có sinh. Không sinh hoá thời không hoá không sinh; có hoá sinh nên có sinh hóa. Hoặc sinh thánh hiền, ngu trí; hoặc hoá vẩy cánh lông sừng. Luôn luôn rạt đắm ở bến mê, mãi mãi nổi chìm trong biển khổ. Lờ mờ mù mịt nào biết nào hay; lo lắng vội vàng, chẳng tỉnh chẳng ngộ. Hết chỉ buông lòng trôi khắp, đều không xỏ mũi kéo về. Khiến đến qua lại sáu đường (3), xuống lên bốn núi. Bốn núi là sinh, lão, bệnh, tử. Nay lần lượt trình bày bốn núi để lại đời sau:

KỆ BỐN NÚI:
Âm:
Tứ sơn tiểu bích vạn thanh tùng
Ngộ liễu đô vô vạn vật không
Hỉ đắc lư nhi tam cước tại
Mịch ky đả sấn thướng cao phong
.

Tạm dịch:
Bốn núi cheo leo vạn cây tùng
Liễu ngộ đều không, vạn vật không
Mừng được ba chân lừa có sẵn (4)
Cỡi lên thẳng tới đỉnh non bồng.


Ghi chú:
(1) Bốn đại:1. Địa đại, 2.Thuỷ đại, 3. Hoả đại, 4. Phong đại.
(2) Năm uẩn: 1.Sắc uẩn, 2. Thọ uẩn, 3. Tưởng uẩn, 4. Hành uẩn, 5.Thức uẩn.
(3)Sáu đường: 1. Trời, 2. Nguời, 3. Atula, 4.Địa ngục, 5.Ngạ quỷ, 6. súc sanh.
(4) Ba chân lừa: Dịch ở chữ "Lư nhi tam cước". Xuất xứ từ câu chuyện: Có vị Tăng hỏi Dương Kỳ thiền sư: Thế nào gọi là Phật ? Thiền sư đáp: "Con lừa ba chân nhảy tung tăng" (tam cước lư nhi đề lộng hành). Như vậy lư nhi tam cước là nhân cách hoá cho linh tính, Phật tính, bản lai diện mục.
 

tanphuqm

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia
27 Thg 10 2006
Bài viết
1,775
Điểm tương tác
90
Điểm
48
NÚI THỨ NHẤT: TƯỚNG SINH.

NÚI THỨ NHẤT: TƯỚNG SINH.

Vì sai một niệm, nên hiện nhiều bề. Gá hình hài nơi tinh huyết mẹ cha, nuôi thai nghén nhờ âm dương hai khí. Trong tam tài (1), người đứng giữa, đối với vạn vật rất thiêng. Chẳng luận kẻ trí, người ngu, đều thuộc bào thai bao bọc; hỏi chi một người trăm họ đều do lò bể mà ra. Hoặc mặt trời biểu hiện, vua thánh giáng sanh; hoặc các sao ứng điềm tôi hiền xuất hiện. Văn bút quét ngàn quân chiến địa, võ luợc thu trăm trận công lao. Trai khoe ném quả bởi trái tươi (2), gái cậy nghiêng thành vì vẻ đẹp. Một trận cười nghiêng nước, hai trận cười đổ thành. Tranh đẹp khoe danh, ganh hay giành lạ. Xem ra vẫn trong vòng luân hồi, rốt cuộc cũng đường sinh hóa.
Tướng sinh của người là mùa xuân của năm. Ba dương (3) mở thêm vận thái, muôn vật rực rỡ màu tươi tốt. Một trời tươi sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng; muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh kêu bướm lượn.

KỆ RẰNG:
Trời đất nấu nung vạn vật thành
Bản lai không mống cũng không manh
Bởi sai có niệm quên vô niệm
Nên trái không sanh chịu hữu sanh
Mũi lữơi tham hương say đắm vị
Mắt tai ưa sắc chuộng âm thanh
Lang thang làm khách phong trần mãi
Ngày cách xa quê muôn dặm trình
.​

Ghi chú:
(1) Tam tài: Thiên, địa, nhân.
(2) Ném quả: Sách Tấn, Chuyện Phan - Nhạc. Nhạc là người rất đẹp trai, lúc htiếu thời thường ôm đàn đi dạo đường phố Lạc Dương; phụ nữ gặp đều vây quanh, ném quả vào đầy xe. Người sau nói về vẻ đẹp của thiếu niên phần nhiều hay dùng vào điểm này.
(3) Ba dương mở thêm vận thái: Dịch ở chữ " Tam dương hanh thái" cũng gọi là "tam dương giao thái". Vì tam dương thuộc quẻ Càn, có ba hào dương. Quẻ Càn thuộc hào tháng giêng, lại giao với quẻ Thái. Thái là quẻ hanh thông - vì có "Càn" ở dưới "Khôn" ở trên, âm dương giao hoà, nên vạn sự hanh thông. Tam dương hanh thái cũng là lời chúc đầu xuân.
 

tanphuqm

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia
27 Thg 10 2006
Bài viết
1,775
Điểm tương tác
90
Điểm
48
NÚI THỨ HAI: TƯỚNG GIÀ

NÚI THỨ HAI: TƯỚNG GIÀ
Hình dung thay đổi, khí huyết suy vi. Dáng gầy tuổi cao, ăn uống mắc nghẹn. Tóc xanh mà đỏ, đổi thành tóc bạc da gà; ngựa trúc áo hoa lại thành gậy cưu (1), xe cói (2). Ví rằng mắt sáng như Ly Lâu (3) cũng khó phân rành màu sắc; Dẫu rằng tai thính như Sư Khoáng (4) cũng không nhận rõ âm thanh. Tiều tụy như cây liễu lúc thu về, xác xơ tựa hoa cỏ khi xuân hết. Bóng chiều sắp ngã về non Tây, nước chảy rót về biển Đông.
Tướng của người già là mùa hạ trong năm. Trời nóng nứt đá làm muôn vật đều khô; Nắng gắt sôi vàng , trăm sông sắp cạn . Hoa tàn liễu úa, trong vườn bờ lạch há giữ được lâu. Bướm lượn oanh bay, dưới lá đầu cành già sắp tới.

KỆ RẰNG:
Con người kiếp sống tựa phù âu
Thọ yểu người đời chớ vọng cầu
Bóng ngã nương dâu chiều sắp tối
Thân như bồ liễu tạm qua thu
Chàng Phan (5) ngày ấy còn xanh tóc
Lã Vọng (6) năm nay đã bạc đầu
Cuồn cuộn việc đờitrôi chẳng đoái
Vầng ô gác núi, nước trôi suôi.

Ghi chú:
(1) Gậy cưu: Gậy của người già, đầu gây có khắc hình chim cưu.
(2) Xe cói: Lấy cỏ bọc bánh xe để người già ngồi cho êm.
(3) Ly Lâu: tên người cũng gọi là Ly Chu,có con mắt sáng, nhìn xa ngoài trăm buớc, mà thấy từng mảy lông.
(4) Sư Khoáng: tên một Nhạc sư đời Tấn, thoi72 Xuân thu, tên chữ llà tử Dã, nghe nhạc mà biết được điềm xấu,tốt.
(5) Chàng Phan: Phan Nhạc đời Tấn
(6) Lã Vọng: còn gọi là lã Thái Công Vọng Lã Thuợng., tên chữ là tử Nha, quân sư của vua Văn Vương đánh Trụ, diệt nhà Ân, có đại công bình định thiên hạ.
 

tanphuqm

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia
27 Thg 10 2006
Bài viết
1,775
Điểm tương tác
90
Điểm
48
NÚI THỨ BA: TƯỚNG BỊNH

NÚI THỨ BA: TƯỚNG BỊNH
- Tuổi cao già yếu, bịnh ngấm cao hoang: Tứ chi mỏi mệt, mạch lạc khó thông, trăm đốt rã rời nóng lạnh chẳng thuận. Tính chân thường đã mất, nguồn điều sướng cũng sai (1). Đứng ngồi khó khăn, co duỗi đau đớn. Mạng tựa ngọn đèn trước gió, thân như hòn bọt trên sông. Tâm sinh bóng quỷ lô nhô mắt thấy hoa không lốm đốm. Hình hài gầy yếu, ai là Biển Thước (2) thuốc hay; Dáng vóc suy vi, ai kẻ Lư Nhân (3) chữa khỏi. Bạn bè luống nhọc viếng thăm, anh em uổng sức nâng đỡ. bệnh nặng thì nhiều tháng chẳng lành; Cảm xoàng thì cũng hàng tuần chưa khỏi.
Tướng bịnh của người là mùa thu của năm. Gặp lúc sương muối vừa rơi, tới kỳ cỏ cây đều héo. Xum xuê rừng rậm, gió thu một trận thấy lơ thơ; biêng biếc non xanh, giọt móc mới sa thêm trơ trụi.

KỆ RẰNG​

Âm dương trái vận vốn xoay vần
Gieo rắc tai ương tới thế nhân
Đại để có thân thì có bịnh
Ví bằng không bịnh cũng không thân
Thuốc tiên nào thấy ai còn mãi
Luơng dược xem ra cũng hết xuân
Sớm nguyện xa lìa ma cảnh giới
Quay về tâm đạo dưỡng thiên chân
.

Ghi chú:

(1) Tính chân thường đã mất, nguồn điều sướng cũng sai : Tâm tánh người bịnh rối loạn không còn bình thường được nữa. Nguồn điều hoà trong cơ thể không còn thông suốt mà đã bị sai lệch.
(2) Biển Thước: một danh y thời xưa
(3) Lư Nhân: Một thầy thuốc giỏi, trị bịnh chẩn mạch thấy suốt được ngũ tạng, họ Tần tên Việt Nhân, thầy thuốc ở đất Lư, nên người đời gọi là Lư Y hoặc Lư Nhân.
 

tanphuqm

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia
27 Thg 10 2006
Bài viết
1,775
Điểm tương tác
90
Điểm
48
NÚI THỨ TƯ: TƯỚNG TỬ

NÚI THỨ TƯ: TƯỚNG TỬ
Bệnh càng trầm trọng mạng sắp cáo chung. tuổi thọ mong hưởng trăm năm, thân thể trở thành giấc mộng. Thông minh trí tuệ khó tránh đại hạn đến ngày; sức mạnh oai hùng đâu chống được vô thường khi tới . Vợ trinh thiếp thuận, trở thành đau thương đứt ruột; anh nhường em kính vội phải ly biệt suốt đời. Vật mình lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường hoa nhà rộng có làm chi, ngọc đụn vàng kho rồi cũng bỏ. Dạ đài (1) khép kín, vốn nghe gió bấc vi vu; Tuyền hộ (2) then cài, chỉ thấy mây sầu ảm đạm.
Tứơng tử của con người là mùa đông của năm. càn khôn ứng Thái tuế (3) trọn vòng; Nhật nguyệt hướng Huyền - hiều hội tụ (4). Âm tinh cưc thịnh, khắp trời mưa tuyết lại bay mù; dương khí tan dần, nơi nơi nước đóng băng càng thêm buốt lạnh.

KỆ RẰNG:
Dồn dập cuồng phong khắp mọi nơi
Ngư ông say tít mặc thuyền trôi
Bốn bề mây phủ màu đen kịt
Một dải sóng gầm tiếng vang tai
Xoay chuyển ầm ầm xe sấm động
Tung bay sầm sập trận mưa rơi
Tạm thời bụi lắng chân trời sáng
Đêm trắng trăng treo bóng nước soi.

Ghi chú:

(1) Dạ đài: tức là mộ - địa, mả.
(2) Tuyền đài: cũng gọi là phần mộ
(3) Thái Tuế: tên một vì sao
(4) Huyền -hiều: tên vì sao ở tháng Tý tức tháng 11 âm lịch,
 

tanphuqm

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia
27 Thg 10 2006
Bài viết
1,775
Điểm tương tác
90
Điểm
48
BÀN VỀ GƯƠNG TUỆ GIÁO

BÀN VỀ GƯƠNG TUỆ GIÁO
Ôi ! Tuệ sinh từ định lực. Nếu tâm định thời gương tuệ sinh, tâm loạn thời gương tuệ diệt. Cũng như gương bằng đồng, trước nhờ mài dũa, rồi sau mới bóng sạch chiếu sáng. Nếu chẳng mài dũa thì bụi dơ phủ mờ, ánh sáng không thể sinh được. Nên biết tuệ do định hiện, định từ tuệ sinh. Định tuệ y vào nhau, hai bên không thiếu một. Nếu muợn danh toạ thiền tâm chưa được định, mà sinh đựoc gương tuệ tất nhiên không thể có.

Tuy có tuệ tính mà chẳng tập ngồi thiền, tự cho mình đã sẵn có tuệ, không cần nương vào toạ thiền. Người tu như thế tuy sẵn có tuệ, nhưng không có thể của gương. Nếu khi ở định, tâm chưa được định, mà muốn cầu tuệ; ví như phong ba chưa yên mà muốn tìm thấy bóng trăng.

Nếu người tâm đã định, mà sinh tà giải để cầu tuệ,cũng như phong ba đã yên, bóng trăng lắng trong mà lại khuấy trong nước để tìm bóng trăng tất không thấy được. Nên Tổ sư nói: " Tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch". Lại nói: " Tịch tịch, tỉnh tỉnh là vô ký. Tỉnh tỉnh tịch tịch là loạn tưởng. Tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh tỉnh là thuốc. Vô ký loạn tưởng là bệnh". Nếu thân có bịnh, nên phải muợn thuốc để đối trị. Thân đã bình định, thì cần gì phải chữa. Nếu hay tập như thế, thời định tuệ thành tựu.
 
Who read this thread (Total readers: 0)

    TOP 5 Tài Thí

    Bên trên